BỘ
LUẬT HÀNG HẢI VIỆT NAM
CHƯƠNG
I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1.
1- Bộ luật hàng hải Việt Nam được áp dụng đối
với những quan hệ pháp luật phát sinh từ các hoạt động liên
quan đến việc sử dụng tầu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên
cứu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, thể thao, xã hội và công
vụ Nhà nước, sau đây gọi chung là hoạt động hàng hải.
Tàu biển nói tại Bộ luật này là cấu trúc nổi,
có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển
và các vùng nước liên quan đến biển.
2- Đối với những quan hệ pháp luật phát sinh
từ hoạt động hàng hải không được Bộ luật này quy định, thì
tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà áp dụng pháp luật tương
ứng của Việt Nam.
Điều
2.
Hoạt động hàng hải của tổ chức, cá nhân Việt
Nam và nước ngoài, của tổ chức liên doanh, hợp tác giữa Việt
Nam với nước ngoài tại Việt Nam được khuyến khích và bảo hộ
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, pháp luật của Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.
Điều 3.
Phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật này
như sau:
1- Toàn bộ các quy định ược áp dụng đối với
các tầu biển chuyên dùng để vận chuyển hàng hoá, hàng khách
và hành lý; thăm dò - khai thác - chế biến tài nguyên biển;
lai dắt hoặc cứu hộ trên biển; trục vớt tài sản trên biển
và thực hiện các mục đích kinh tế khác, sau đây gọi chung
là tầu Bưuôn.
2- Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành
khách và hành lý, cầm giữ, bắt giữ hàng hải, giới hạn trách
nhiệm dân sự của chủ tầu không áp dụng đối với các tầu biển
chuyên dùng để thực hiện các hoạt động bảo đảm hàng hải; khí
tượng - thuỷ văn; thông tin - liên lạc; thanh tra; hải quan;
phòng dịch; chữa cháy; hoa tiêu; huấn luyện; bảo vệ môi trường
hoặc chuyên dùng để tìm kiếm và cứu nạn trên biển, sau đây
gọi chung là tầu công vụ Nhà nước.
3- Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành
khách và hành lý, tổn thất chung không áp dụng đối với các
tầu biển chuyên dùng để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa
học - kỹ thuật và thể thao.
4- Chỉ trong những trường hợp có quy định cụ
thể, thì mới được áp dụng đối với tầu biển chuyên dùng vào
mục đích quân sự và bảo vệ an ninh, trật tự thuộc các lực
lượng vũ trang và các loại tầu biển nước ngoài.
Các quy định về vận chuyển hàng hoá, hành khách
và hành lý không áp dụng đối với việc vận chuyển quân sự bằng
tầu Buôn.
Điều
4.
1- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải có quyền
có những thoả thuận riêng, nếu Bộ luật này không hạn chế.
2- Các bên tham gia hợp đồng hàng hải mà trong
đó có ít nhất một bên là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài,
thì có quyền thoả thuận áp dụng luật hoặc tập quán hàng hải
nước ngoài hoặc quốc tế trong các quan hệ hợp đồng và chọn
trọng tài, toà án ở một trong hai nước hoặc ở một nước thứ
ba để giải giải quyết tranh chấp.
Điều
5.
Trong trường hợp có xung đột pháp luật, thì
việc chọn luật để áp dụng được xác định theo các nguyên tắc
sau đây:
1- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan
đến các quyền sở hữu tài sản trên tầu; hợp đồng cho thuê tầu;
hợp đồng thuê thuyền viên; hợp đồng vận chuyển hành khách
và hành lý; chia tiền công cứu hộ giữa chủ tầu cứu hộ và thuyền
bộ của tầu cứu hộ; trục vớt tài sản chìm đắm ở công hải; các
vụ việc xảy ra trên tầu khi tầu đang ở công hải, thì luật
được chọn là luật quốc gia mà tầu mang cờ.
2- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan
đến tổn thất chung, thì luật được chọn là luật nơi tầu ghé
vào sau khi xảy ra tổn thất chung.
3- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan
đến tai nạn đâm va; tiền công cứu hộ; trục vớt tài sản chìm
đắm ở biển, xảy ra tại nội thuỷ hoặc lãnh hải của quốc gia
nào, thì luật được chọn là luật quốc gia đó.
4- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan
đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở công hải, thì luật
được chọn là luật do trọng tài hoặc toà án đã thụ lý tranh
chấp áp dụng.
5- Đối với các quan hệ pháp luật liên quan
đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá, thì luật được chọn là luật
quốc gia, nơi người vận chuyển đặt trụ sở.
Điều
6.
Nếu điều ước quốc tế mà Việt nam ký kết hoặc
công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì áp dụng điều
ước quốc tế.
Điều
7.
Trong trường hợp Bộ luật này quy dịnh hoặc
do có thoả thuận trong hợp đồng, thì luật nước ngoài có thể
được áp dụng tại Việt Nam đối với các quan hệ hợp đồng hàng
hải, nếu luật đó không trái với pháp luật Việt Nam.
CHƯƠNG
II
TÀU
BIỂN
Mục A: TÀU BIỂN VIỆT NAM
Điều 8.
1- Chỉ có tầu biển Việt Nam mới được mang cờ
quốc tịch tầu biển Việt Nam.
2- Tàu biển Việt Nam là tầu biển thuộc sở hữu
của Nhà nước Việt Nam, tổ chức Việt nam có trụ sở chính tại
Việt nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam
hoặc tầu biển thuộc sở hữu nước ngoài đã được phép đăng ký
tại Việt Nam.
3- Sau khi được đăng ký vào "Sổ đăng ký
tầu biển quốc gia" của Việt nam hoặc từ khi được cơ quan
đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam
ở nước ngoài cấp "Giấy phép mang cờ quốc tịch tầu biển
tạm thời", thì tầu biển có quyền và nghĩa vụ mang cờ
quốc tịch tầu biển Việt Nam.
Điều
9.
1- Tàu biển Việt Nam được ưu tiên vận chuyển
hàng hoá, hành khách và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam.
Tàu biển nước ngoài chỉ được vận chuyển hàng hoá, hành khách
và hành lý giữa các cảng biển Việt Nam trong các trường hợp
do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.
2- Hội đồng Bộ trưởng quy định phạm vi hoạt
động của tầu biển Việt Nam thuộc sở hữu tư nhân Việt Nam.
Điều
10.
Tàu biển có tên gọi riêng do chủ tầu đặt và
phải được cơ quan đăng ký tầu biển Việt Nam chấp nhận.
Điều
11.
Chủ tầu là người sở hữu tầu biển. Chủ tầu có
quyền sử dụng cờ hiệu riêng.
Điều
12.
1- Tàu biển Việt Nam phải được đăng ký vào
"Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam.
Việc đăng ký tầu biển ở Việt Nam do cơ quan
đăng ký tầu biển thực hiện công khai và thu lệ phí. Những
người quan tâm có quyền yêu cầu được cấp trích lục hoặc bản
sao từ "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".
2- Hội đồng bộ trưởng quy định trường hợp tầu
biển thuộc sở hữu Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài và tầu
biển thuộc sở hữu nước ngoài được đăng ký tại Việt Nam.
3- Hội đồng Bộ trưởng quy định về cơ quan đăng
ký tầu biển Việt Nam; thể thức đăng ký tầu biển và xử phạt
hành chính các vi phạm về đăng ký tầu biển tại Việt Nam.
Điều 13.
Tàu biển chỉ được đăng ký vào "Sổ đăng
ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam sau khi không còn
mang quốc tịch tầu biển của nước ngoài và được Đăng kiểm Việt
Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài mà đăng kiểm
Việt Nam uỷ quyền đã kiểm tra kỹ thuật, phân cấp tầu, đo đạc
dung tích và cấp các giấy chứng nhận cần thiết.
Điều
14.
1- "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia"
của Việt Nam bao gồm nội dung sau đây:
a) Tên tầu, tên chủ tầu và nơi chủ tầu đặt
trụ sở, hô hiệu quốc tế; loại tầu và mục đích sử dụng;
b) Sổ đăng ký; thời điểm đăng ký;
c) Nơi đóng tầu, xưởng đóng tầu và thời điểm
đóng tầu;
d) Các đặc tính kỹ thuật của tầu;
e) Định biên tối thiểu;
g) Sở hữu và những thay đổi liên quan;
h) Thời điểm xoá đăng ký và cơ sở của việc
xoá đăng ký.
2- Mọi thay đổi về nội dung đăng ký nói tại
khoản 1, điều này cũng phải được ghi rõ vào "Sổ đăng
ký tầu biển quốc gia".
3- Nội dung đã được đăng ký vào "Sổ đăng
ký tầu biển quốc gia" có giá trị pháp lý đối với người
liên quan.
4- Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, tầu
biển được cấp "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển"
của Việt Nam. Giấy này đồng thời là bằng chứng về quốc tịch
Việt Nam của tầu.
Điều
15.
1- Tàu biển Việt Nam đương nhiên xoá đăng ký
trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam
trong các trường hợp sau đây:
a) Bị phá huỷ hoặc chìm đắm;
b) Bị mất tích;
c) Bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc
việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế;
d) Không còn đủ cơ sở để được mang quốc tịch
tầu biển Việt Nam;
e) Không còn tính năng tầu biển.
2- Trong các trường hợp nói tại điểm c và điểm
e, khoản 1, điều này, khi tầu biển bị cầm cố, thế chấp, cầm
giữ, thì tầu biển chỉ được chính thức xoá đăng ký, nếu chủ
nợ chấp nhận cho xoá đăng ký.
3- Tàu biển Việt Nam có thể xoá đăng ký theo
yêu cầu của chủ tầu.
Điều
16.
1- Chủ tầu có trách nhiệm hoàn thành thủ tục
đăng ký tầu biển chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận
tầu tại Việt Nam hoặc từ ngày đưa tầu về đến cảng biển Việt
Nam đầu tiên, nếu nhận ở nước ngoài.
2- Chủ tầu có trách nhiệm thông báo chính xác
và nhanh chóng cho cơ quan đăng ký tầu biển về mọi sự kiện
liên quan đến tầu.
Mục B: AN TOÀN HÀNG HẢI và PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG
Điều 17.
Chỉ được phép sử dụng tầu biển vào mục đích
đã đăng ký khi cấu trúc, trang thiết bị, tài liệu của tầu,
định biên và khả năng chuyên môn của thuyền bộ hoàn toàn phù
hợp với các quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải
và Bưu điện về an toàn hàng hải đối với tầu, người ở trên
tầu và về phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Điều
18.
1- Sau khi được Đăng kiểm Việt Nam hoặc cơ
quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài mà Đăng kiểm Việt Nam uỷ
quyền đã kiểm tra, xác nhận có đủ các điều kiện an toàn kỹ
thuật theo quy phạm quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc
tế liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận, tầu biển Việt
Nam được cấp các giấy chúng nhận an toàn kỹ thuật.
2- Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật phải ghi
rõ thời hạn có hiệu lực. Thời hạn này đương nhiên được kéo
dài thêm nhiều nhất là chín mươi ngày, nếu tầu thực sự không
có điều kiện đến nơi được chỉ định để kiểm tra định kỳ và
điều kiện kỹ thuật của tầu trong thực tế vẫn bảo đảm an toàn.
Thời hạn đương nhiên được kéo dài này kết thúc ngay khi tầu
về đến cảng được chỉ định để kiểm tra.
3- Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật đương nhiên
mất giá trị, nếu trên thực tế tầu biển có những thay đổi lớn,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng an toàn kỹ thuật của tầu.
4- Trong trường hợp có đủ căn cứ để nghi ngờ
khả năng an toàn kỹ thuật của tầu, Thanh tra an toàn hàng
hải Việt Nam có quyền tạm đình chỉ hoạt động của tầu, tự mình
hoặc yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra kỹ thuật của tầu,
mặc dù trước đó tầu đã được cấp đủ các giấy chứng nhận an
toàn kỹ thuật.
Điều
19.
1- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiến hành thanh tra an toàn
hàng hải, kiểm tra kỹ thuật tầu biển.
2- Chủ tầu và thuyền trưởng có trách nhiệm
sửa chữa, bổ sung các điều kiện an toàn hàng hải theo yêu
cầu của Đăng kiểm Việt Nam, Thanh tra an toàn hàng hải Việt
Nam trước khi cho tầu hoạt động.
Điều
20.
1- Khi hoạt động trên biển và vùng nước liên
quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt động, các tầu biển,
tầu sông, thuỷ phi cơ, kể cả của các lực lượng vũ trang Việt
Nam phải chấp hành các quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển
do Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định.
2- Các công trình, thiết bị được xây dựng hoặc
lắp đặt ở biển và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển
được phép hoạt động phải có đầy đủ các báo hiệu an toàn theo
đúng quy định về báo hiệu hàng hải do Bộ trưởng Bộ Giao thông
- Vận tải và Bưu điện quy định.
Điều
21.
1- Trong phạm vi nội thuỷ và lãnh hải Việt
Nam, tầu biển nước ngoài phải chấp hành đầy đủ các quy định
về an toàn hàng hải của Việt Nam, trừ trường hợp giữa Việt
Nam và quốc gia mà tầu đó mang cờ có những thoả thuận khác.
2- Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam có quyền
kiểm tra và xử phạt hành chính các vi phạm của tầu biển nước
ngoài khi hoạt động tại nội thuỷ và lãnh hải Việt Nam, nếu
có đủ căn cứ để nghi ngờ khả năng an toàn hàng hải của tầu
hoặc khi tầu vi phạm quy định về an toàn hàng hải Việt Nam.
Điều
22.
Việc thanh tra an toàn hàng hải, kiểm tra kỹ
thuật tầu biển theo quy định của Bộ luật này; việc khám xét
tầu biển phải được tiến hành theo đúng pháp luật và không
được làm ảnh hưởng đến khả năng an toàn hàng hải của tầu.
Điều
23.
1- Khi hoạt động tại các vùng nước thuộc chủ
quyền của Việt Nam, tầu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài
phải chấp hành đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường của
Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công
nhận.
2- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài
chuyên dùng để vận chuyển dầu mỏ, chế phẩm từ dầu mỏ hoặc
các hàng hoá nguy hiểm khác bắt Buộc phải có bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ tầu về ô nhiễm môi trường khi hoạt động
tại vùng nước các cảng biển và khu vực hàng hải khác của Việt
Nam.
3- Tàu biển nước ngoài chạy bằng năng lượng
nguyên tử chỉ được vào hoạt động tại nội thuỷ, lãnh hải của
Việt Nam sau khi được Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng cho phép.
Điều
24.
Hội đồng bộ trưởng quy định về tổ chức, hoạt
động của Thanh tra an toàn hàng hải Việt Nam và Đăng kiểm
Việt Nam.
Mục C: KIỂM TRA DUNG TÍCH TẦU BIỂN
Điều 25.
1- Tàu biển Việt Nam và tầu biển nước ngoài
khi hoạt động tại vùng nước cảng biển và luồng quá cảnh của
Việt Nam phải có đủ các giấy chứng nhận dung tích do Đăng
kiểm Việt Nam hoặc cơ quan đăng kiểm tầu biển nước ngoài,
cơ quan đo dung tích tầu biển có thẩm quyền của nước ngoài
cấp. Các giấy chứng nhận dung tích phải phù hợp với quy phạm
quốc gia của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký
kết hoặc công nhận.
2- Trong trường hợp tầu không có đủ các điều
kiện nói tại khoản 1, Điều này, thì chủ tầu hoặc thuyền trưởng
phải yêu cầu Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra dung tích tầu và
thanh toán các chi phí liên quan.
Mục D: TÀI LIỆU CỦA TẦU
Điều 26.
Trên tầu biển Việt Nam phải có đủ các loại
nhật ký tầu biển, các loại giấy chứng nhận, các tài liệu khác
của tầu và của thuyền viên theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Giao thông - Vận tải và Bưu điện.
Mục E: CÁC QUYỀN VỀ SỞ HỮU TẦU BIỂN
Điều
27.
1- Hợp đồng chuyển nhượng sở hữu tầu biển tại
Việt Nam phải được làm bằng văn bản và được cơ quan công chứng
chứng thực, nếu ở nước ngoài thì thủ tục được tiến hành theo
luật nơi hợp đồng được ký kết.
2- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng
ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam nơi tầu biển đó đã
được đăng ký, thì việc chuyển nhượng sở hữu tầu biển Việt
Nam mới có giá trị.
3- Sau khi hoàn thành các thủ tục chuyển nhượng,
thì toàn bộ con tầu và tài sản của tầu thuộc quyền sở hữu
của người được chuyển nhượng, trừ trường hợp các bên có thoả
thuận khác.
Tài sản của tầu là các đồ vật, trang thiết
bị ở trên tầu mà không phải là các bộ phận cấu thành của tầu.
Điều 28.
Các quy định về chuyển nhượng sở hữu tầu biển
cũng được áp dụng đối với việc chuyển nhượng cổ phần sở hữu
tầu biển.
Điều
29.
1- Chủ tầu có quyền cầm cố, thế chấp tầu biển
cho người khác theo quy định của pháp luật.
2- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển tại Việt
Nam được giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Hợp đồng về cầm
cố, thế chấp tầu biển tại Việt Nam phải làm bằng văn bản và
được cơ quan công chứng chứng thực.
3- Việc cầm cố, thế chấp tầu biển Việt Nam
ở nước ngoài được giải quyết theo luật nơi hợp đồng được ký
kết.
4- Chỉ sau khi được ghi nhận vào "Sổ đăng
ký tầu biển quốc gia", thì việc cầm cố, thế chấp tầu
biển Việt Nam mới có giá trị.
Điều
30.
1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải theo luật
định đối với tầu biển để bảo đảm cho các khoản nợ ưu tiên,
mặc dù tầu biển đó đã được cầm giữ, cầm cố, thế chấp để bảo
đảm cho các khoản nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định
của toà án.
2- Cầm giữ hàng hải đối với tầu biển không
bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi chủ tầu, người khai thác tầu,
cho dù người mua tầu biết hay không biết về việc tầu đã bị
cầm giữ.
3- Tuyên bố của chủ nợ về việc cầm giữ hàng
hải đối với tầu biển chỉ có giá trị sau khi đã được ghi nhận
vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", nơi tầu đã đăng
ký.
Điều 31.
Những khoản nợ ưu tiên là những khoản nợ được
giải quyết trước các khoản nợ khác, theo thứ tự sau đây:
1- Tiền bồi thường tính mạng, thương tích và
tổn hại khác về sức khoẻ con người; tiền bồi thường liên quan
đến các quyền lợi phát sinh từ hợp đồng lao động;
2- Các loại án phí và chi phí thi hành án;
chi phí bảo vệ quyền lợi chung của các chủ nợ để duy trì tầu,
bán tầu và chia tiền bán tầu; cước phí cảng, thuế và các phí
công cộng tương tự; hoa tiêu phí; chi phí bảo vệ và bảo quản
tầu từ khi tầu đến cảng cuối cùng;
3- Tiền công cứu hộ và các chi phí đóng góp
vào tổn thất chung;
4- Tiền bồi thường do đâm va hoặc tại nạn hàng
hải khác; tiền bồi thường thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu
bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu; tiền bồi thường tổn
thất hàng hoá và hành lý;
5- Các khoản tiền liên quan đến hợp đồng do
thuyền trưởng ký kết hoặc các hành động khác của thuyền trưởng
trong phạm vi quyền hạn theo luật định, khi tầu ở ngoài cảng
đăng ký để sửa chữa, tiếp tục chuyến đi, ngay cả khi thuyền
trưởng đồng thời là người khai thác tầu hoặc là chủ tầu; các
khiếu nại đòi bồi thường của chính bản thân thuyền trưởng
hoặc người cung ứng tầu biển, người sửa chữa tầu biển, người
cho vay tiền và những người khác có quan hệ hợp đồng với thuyền
trưởng.
Điều
32.
1- Việc giải quyết yêu cầu của chủ nợ trong
phạm vi giá trị tài sản bị cầm giữ do toà án quyết định.
2- Các khoản nợ ưu tiên được giải quyết lần
lượt theo thứ tự các nhóm từ khoản 1 đến khoản 5, Điều 31
của Bộ luật này.
3- Các khoản nợ ưu tiên phát sinh từ cùng một
chuyến đi và ở trong cùng một nhóm nói tại Điều 31 của Bộ
luật này, được giải quyết tuỳ theo tỉ lệ giá trị giữa chúng,
nếu khoản tiền phân chia không đủ để thanh toán giá trị của
mỗi khoản nợ. Riêng các khoản nợ thuộc các nhóm nói tại khoản
3 và khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này, thì khoản nợ nào phát
sinh sau được giải quyết trước các khoản nợ khác ở cùng nhóm
đó, mặc dù các khoản nợ đó phát sinh sớm hơn.
4- Các khoản nợ phát sinh từ cùng một sự kiện
được coi là phát sinh trong cùng một thời gian.
5- Việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển liên
quan đến chuyến đi cuối cùng, được ưu tiên giải quyết trước
việc cầm giữ hàng hải liên quan đến các chuyến đi khác.
6- Các khoản nợ phát sinh từ cùng một hợp đồng
lao động liên quan đến nhiều chuyến đi được giải quyết cùng
với các khoản nợ liên quan đến chuyến đi cuối cùng.
Điều
33.
1- Chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải đối với
các khoản tiền sau đây:
a) Tiền cước vận chuyển hàng hoá, hành lý hoặc
tiền công vận chuyển hành khách của chuyến đi liên quan đến
khoản nợ hoặc của tất cả các chuyến đi đã được thực hiện trong
thời gian hiệu lực của cùng một hợp đồng lao động, để bảo
đảm cho việc giải quyết các khoản nợ về hợp đồng lao động;
b) Khoản tiền bồi dỡng tổn thất cho các hư
hỏng của tầu mà chưa được sửa chữa và tiền bồi thường do mất
cước;
c) Tiền bồi thường cho tầu sau tổn thất chung,
nếu trong đó đã được tính các khoản tiền nói tại điểm b, Điều
này;
d) Tiền công cứu hộ trả cho tầu sau khi đã
trừ tiền công dành riêng để trả cho thuyền bộ và những người
làm công khác cho chủ tầu.
2- Quyền cầm giữ hàng hải nói tại khoản 1,
Điều này không áp dụng đối với những khoản tiền do người bảo
hiểm bồi thường cho tầu.
Điều
34.
1- Quyền cầm giữ hàng hải để giải quyết các
khoản nợ ưu tiên nói tại khoản 5, Điều 31 của Bộ luật này
chấm dứt sau một trăm tám mươi ngày; đối với các khoản nợ
khác, thì thời hiệu này là một năm.
2- Thời hiệu của quyền cầm giữ hàng hải được
tính:
a) Từ ngày kết thúc hoạt động cứu hộ, trong
trường hợp để giải quyết tiền công cứu hộ;
b) Từ ngày phát sinh tổn thất, trong trường
hợp để giải quyết các tổn thất do đâm va hoặc tai nạn hàng
hải khác;
c) Từ ngày giao hàng hoá, hành lý hoặc ngày
lẽ ra phải làm việc đó, trong trường hợp để giải quyết các
tổn thất hàng hoá, hành lý;
d) Từ ngày phát sinh khoản nợ, trong trường
hợp để giải quyết các khoản nợ nói tại khoản 5, Điều 31 của
Bộ luật này;
e) Từ ngày phải thanh toán, trong trường hợp
để giải quyết các khoản nợ khác.
3- Quyền cầm giữ hàng hải đối với các khoản
nợ nói tại Điều 33 của Bộ luật này hết hiệu lực khi chủ tầu
đã thanh toán các khoản nợ liên quan. Nếu tiền thanh toán
vẫn còn nằm trong tay thuyền trưởng hoặc người đã được uỷ
nhiệm thay mặt chủ tầu hoặc người khai thác tầu để thanh toán
các khoản nợ đó, thì quyền cầm giữ hàng hải vẫn còn hiệu lực.
4- Khi toà án không thể thực hiện việc kê biên
tầu trong phạm vi nội thuỷ hoặc lãnh hải Việt Nam để bảo vệ
quyền lợi của chủ nợ thường trú hoặc có trụ sở chính tại Việt
Nam, thì thời hiệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này
kết thúc sau ba mươi ngày, tính từ ngày tầu về đến cảng biển
Việt Nam đầu tiên, nhng tối đa không được quá hai năm, tính
từ ngày phát sinh khoản nợ.
Điều 35.
1- Theo yêu cầu của chủ nợ, Giám đốc cảng vụ
có quyền tạm giữ trong vòng bẩy mươi hai giờ các tài sản sau
đây:
a) Tầu biển, để bảo đảm cho các khiếu nại đối
với tầu về cảng phí hoặc tiền bồi thường thiệt hại cho thiết
bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu tầu, ụ tầu;
b) Xác tầu đắm hoặc các vật thể khác đã cản
trở các hoạt động hàng hải, để bảo đảm cho các khiếu nại liên
quan đến việc thải chúng.
2- Chủ nợ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về
yêu cầu tạm giữ nói tại khoản 1, Điều này. Thời hiệu khiếu
nại về việc tạm giữ nói tại khoản 1, Điều này là hai năm,
tính từ ngày phát sinh vụ việc.
3- Sau bảy mươi hai giờ, tài sản bị tạm giữ
theo quy định tại khoản 1, Điều này được giải phóng, nếu không
có quyết định khác của toà án.
Điều
36.
1- Trong trường hợp cần thiết, để bảo đảm cho
việc giải quyết các tranh chấp đã được thụ lý, Toà án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính
tương đương có quyền ra lệnh bắt giữ tầu biển.
2- Tầu biển nước ngoài có thể bị bắt giữ tại
Việt Nam theo yêu cầu của toà án nước ngoài để bảo đảm cho
việc giải quyết việc kiện mà toà án đó thụ lý.
3- Sau thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thuyền
trưởng nhận được lệnh bắt giữ mà chủ tầu không thực hiện các
biện pháp bảo đảm thay thế, thì toà án đã ra lệnh bắt giữ
có quyền quyết định bán đấu giá tầu biển.
Điều
37.
1- Sau khi chủ tầu hoặc người khai thác tầu
đã thực hiện những biện pháp bảo đảm thay thế hoặc đã thanh
toán đủ các khoản nợ, thì tầu biển đang bị cầm giữ, bị tạm
giữ, bị bắt giữ hàng hải phải được giải phóng ngay. Những
người khiếu nại không có quyền thực hiện bất cứ hành động
nào xâm phạm tài sản hoặc quyền lợi khác của chủ tầu hoặc
người khai thác tầu.
2- Tầu biển cũng có thể được giải phóng theo
yêu cầu của chính Những người đã yêu cầu cầm giữ, tạm giữ,
bắt giữ hàng hải tầu biển đó. Mọi phí tổn liên quan do người
yêu cầu chịu trách nhiệm thanh toán.
CHƯƠNG III
THUYỀN BỘ
Điều 38.
Thuyền bộ của tầu gồm thuyền trưởng, các sĩ
quan và những người khác làm việc trong định biên của tầu,
sau đây gọi chung là thuyền viên.
Điều 39.
Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam
phải là công dân Việt Nam. Trong các trường hợp do Bộ trưởng
Bộ giao thông - Vận tải và Bưu điện quy định, thuyền viên
là công dân Việt Nam được phép làm việc trên tầu biển nước
ngoài và thuyền viên là công dân nước ngoài được phép làm
việc trên tầu biển Việt Nam.
Điều
40.
Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt Nam
phải có đủ tiêu chuẩn sức khoẻ, tiêu chuẩn chuyên môn và chứng
chỉ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giao thông -
Vận tải và Bưu điện.
Điều
41.
1- Thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt
Nam có nghĩa vụ thực hiện trách nhiệm theo chức danh.
2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu
điện quy định chức danh, trách nhiệm theo chức danh và chế
độ kỷ luật đối với thuyền viên làm việc trên tầu biển Việt
Nam; đối với thuyền viên làm việc trên các tầu biển chuyên
dùng để khai thác, chế biến hải sản, thì do Bộ trưởng Bộ thuỷ
sản quy định.
3- Chủ tầu quy định chức danh, trách nhiệm
theo chức danh của thuyền viên chưa được Bộ trưởng Bộ Giao
thông - Vận tải và Bưu điện hoặc Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản quy
định.
Điều
42.
1- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của
thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển Việt Nam được
xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam.
2- Trong trường hợp chủ tầu hoặc thuyền trưởng
yêu cầu thuyền viên Việt Nam phải rời tầu, thì chủ tầu có
nghĩa vụ chu cấp mọi chi phí sinh hoạt và đi đường cần thiết
để đưa thuyền viên về đúng nơi quy định trong hợp đồng lao
động hoặc về đến cảng đã tiếp nhận thuyền viên vào làm việc,
nếu trong hợp đồng lao động không có thoả thuận khác.
3- Trong trường hợp tài sản riêng hợp pháp
của thuyền viên Việt Nam bị tổn thất do tầu bị tai nạn, thì
chủ tầu phải bồi thường tài sản đó theo giá trị thị trường
ở nơi và thời điểm giải quyết tại nạn. Thuyền viên có lỗi
trực tiếp gây ra tai nạn không có quyền đòi bồi thường tài
sản của mình đã bị tổn thất.
4- Chế độ lao động, nghĩa vụ và quyền lợi của
thuyền viên Việt Nam làm việc trên tầu biển nước ngoài và
của thuyền viên nước ngoài làm việc trên tầu biển Việt Nam
được xác định trên cơ sở hợp đồng thuê thuyền viên.
Điều
43.
Thuyền trưởng là người có quyền chỉ huy cao
nhất ở trên tầu. Mọi người có mặt trên tầu đều phải chấp hành
mệnh lệnh của thuyền trưởng.
Điều
44.
1- Thuyền trưởng không được phép rời tầu khi
tầu đang hành trình hoặc đang gặp nguy hiểm, trừ trường hợp
việc thuyền trưởng rời tầu là hết sức cần thiết.
2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ trực tiếp điều
khiển tầu ra, vào cảng, kênh đào, luồng sông và khi tầu hoạt
động trong vùng nước cảng hoặc khi xảy ra các tình huống đặc
biệt khó khăn, nguy hiểm.
3- Thuyền trưởng có nghĩa vụ sử dụng hoa tiêu,
tầu lai dắt trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc
để bảo đảm an toàn cho tầu.
Việc sử dụng hoa tiêu không miễn giảm nghĩa
vụ của thuyền trưởng nói tại khoản 2, Điều này.
Điều
45.
1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ thực hiện mẵn
cán các nhiệm vụ thuộc chức trách của mình theo đúng lương
tâm nghề nghiệp.
2- Trước và trong khi tầu đang hành trình,
thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo để tầu có đủ các
điều kiện an toàn hàng hải cần thiết, phù hợp với tiêu chuẩn
nghề nghiệp, các quy định về trang thiết bị, vỏ tầu, dự trữ,
chất lượng thuyền bộ và các vấn đề khác có liên quan đến an
toàn hàng hải cho tầu và người ở trên tầu.
3- Thuyền trưởng có quyền từ chối không cho
tầu hành trình, nếu xét thấy chưa đủ điều kiện an toàn hàng
hải cần thiết.
4- Thuyền trưởng có quyền áp dụng các biện
pháp khen thưởng hoặc kỷ luật đối với thuyền viên thuộc quyền;
có quyền từ chối tiếp nhận hoặc buộc phải rời khỏi tầu những
thuyền viên không đủ trình độ chuyên môn theo chức danh hoặc
có hành vi vi phạm kỷ luật.
Điều
46.
1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ quan tâm thích
đáng để hàng được bốc lên tầu, sắp xếp và bảo quản trên tầu,
dỡ khỏi tầu một cách hợp lý, mặc dù các công việc này đã được
giao cho những người có trách nhiệm thực hiện.
2- Thuyền trưởng có nghĩa vụ chăm sóc chu đáo
để hàng hoá trên tầu không bị hư hỏng hoặc mất mát; áp dụng
biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của những người có
lợi ích liên quan đến hàng hoá; phải tận dụng mọi khả năng
thông báo cho những người có lợi ích liên quan biết về những
sự kiện đặc biệt, liên quan đến hàng hoá.
Điều
47.
1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ áp dụng mọi biện
pháp cần thiết để bảo vệ tầu, người và các tài sản trên tầu.
2- Trong trưởng hợp cảng đích bị chiến tranh
đe doạ hoặc bị phong toả, thuyền trưởng có nghĩa vụ đƯa tầu
vào cảng an toàn gần nhất và thực hiện mọi biện pháp cần thiết
để bảo vệ tầu, người, tài sản trên tầu, tài liệu của tầu.
3- Trong trường hợp tầu có nguy cơ bị chìm
đắm hoặc bị phá huỷ, thuyền trưởng có nghĩa vụ tận dụng mọi
khả năng cho phép để trước hết cứu hành khách và sau đó cứu
thuyền viên.
Thuyền trưởng phải là người cuối cùng rời tầu,
sau khi đã tìm mọi cách cứu nhật ký hàng hải, hải đồ, tài
liệu khác của tầu, đồ vật có giá trị cao và quỹ của tầu.
Điều
48.
1- Thuyền trưởng có nghĩa vụ tìm kiếm và cứu
nạn những người đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển,
nếu việc thực hiện nghĩa vụ này không gây nguy hiểm nghiêm
trọng cho tầu và những người đang trên tầu của mình.
Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền
trưởng vi phạm nghĩa vụ này.
2- Thuyền trưởng của tầu đang trong tình trạng
nguy hiểm trên biển có quyền yêu cầu cứu nạn và sau khi thoả
thuận với các tầu đến cứu nạn, có quyền chỉ định tầu thực
hiện hành động cứu hộ.
Điều
49.
1- Thuyền trưởng là người đại diện của chủ
tầu và của những người có lợi ích liên quan đến hàng hoá khi
giải quyết những công việc thông thường trong việc điều khiển
tầu, quản trị tầu và hàng hoá.
2- Trong phạm vi các công việc nói tại khoản
1, Điều này, thuyền trưởng có quyền nhân danh chủ tầu và người
có lợi ích liên quan đến hàng hoá thực hiện các hành vi pháp
lý, có thể khởi kiện hoặc tham gia tố tụng trước toà án khi
tầu ở ngoài cảng đăng ký, trừ trường hợp chủ tầu hoặc người
có lợi ích liên quan đến hàng hoá tuyên bố hạn chế một phần
hoặc toàn bộ quyền đại diện đó. Tuyên bố này còn có hiệu lực
pháp lý đối với người thứ ba, nếu người đó biết về sự hạn
chế này.
Điều
50.
1- Trong trường hợp cần thiết, khi tầu ở ngoài
cảng đăng ký, thuyền trưởng có quyền vay tín dụng hoặc nhân
danh chủ tầu để vay tiền mặt, nhưng chỉ trong giới hạn đủ
để sửa chữa tầu, bổ sung thuyền viên, cung ứng cho tầu hoặc
vì nhu cầu khác để có thể tiếp tục chuyến đi.
2- Trong thời hạn nói tại khoản 1, Điều này,
thuyền trưởng còn có quyền đem bán một phần tài sản hoặc phần
dự trữ dư thừa của tầu, nếu việc chờ nhận tiền hoặc chỉ thị
của chủ tầu không có lợi hoặc không hiện thực.
3- Trong thời gian thực hiện chuyến đi, nếu
không còn cách nào khác để có đủ các điều kiện cần thiết cho
việc kết thúc chuyến đi, thì thuyền trưởng có quyền cầm cố
hoặc đem bán một phần hàng hoá sau khi đã tìm mọi cách xin
chỉ thị của người thuê vận chuyển và chủ tầu mà không được.
4- Khi lựa chọn biện pháp để có khoản tiền
cần thiết cho việc kết thúc chuyến đi, thuyền trưởng có nghĩa
vụ giảm tới mức thấp nhất sự thiệt hại của chủ tầu và những
người có lợi ích liên quan đến hàng hoá.
Điều
51.
1- Trong khi đang hành trình mà trên tầu không
còn lương thực, thực phẩm dự trữ, thuyền trưởng có quyền trưng
dụng một phần hàng hoá là lương thực, thực phẩm vận chuyển
trên tầu; nếu thật cần thiết, thì có quyền trưng dụng lương
thực, thực phẩm của những người đang ở trên tầu. Việc trưng
dụng này phải được lập thành biên bản.
2- Chủ tầu có nghĩa vụ bồi thường số lương
thực, thực phẩm bị trưng dụng.
Điều
52.
1- Thuyền trưởng có trách nhiệm ghi vào nhật
ký hàng hải và lập biên bản với sự tham gia của nhân viên
y tế của tầu và hai nhân chứng về các trường hợp sinh, tử
xẩy ra trên tầu và các sự kiện có liên quan. Thuyền trưởng
có nghĩa vụ lập bản kê và bảo quản tài sản của người chết
để lại trên tầu.
2- Thuyền trưởng có trách nhiệm thông báo về
các trường hợp sinh, tử xảy ra ở trên tầu và chuyển di chúc,
bản kê tài sản của người chết cho cơ quan hộ tịch có thẩm
quyền ở cảng Việt nam đầu tiên mà tầu ghé vào hoặc cho cơ
quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt
nam, nếu tầu đến cảng nước ngoài .
3- Sau khi đã cố gắng tìm mọi cách để xin chỉ
thị của chủ tầu và hỏi ý kiến của thân nhân người chết, thuyền
trưởng nhân danh chủ tầu làm thủ tục và tổ chức mai táng.
Mọi chi phí liên quan được thanh toán theo
quy định của pháp luật.
Điều
53.
1- Khi xảy ra hành vi phạm tội ở trên tầu,
thì thuyền trưởng có trách nhiệm:
a) áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết,
lập hồ sơ theo qui định của pháp luật;
b) Bảo vệ chứng cứ và tuỳ theo điều kiện cụ
thể, chuyển giao người có hành vi phạm tội và hồ sơ cho cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền ở cảng Việt Nam đầu tiên mà tầu
ghé vào hoặc cho tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam
gặp ở trên biển khi tầu đang hành trình hoặc thông báo cho
cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của
Việt Nam và làm theo chỉ thị của cơ quan này, nếu tầu đến
cảng nước ngoài.
2- Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an
toàn, trật tự cho tầu, người ở trên tầu và hàng hoá vận chuyển
trên tầu, thuyền trưởng có quyền giữ bất cứ người nào có liên
quan đang ở trên tầu tại một phòng dành riêng.
Điều
54.
1- Khi tầu đến cảng nước ngoài, thuyền trưởng
có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đại diện ngoại giao
hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam biết về việc tầu đến
cảng, trừ trường hợp không có điều kiện thực hiện trách nhiệm
này.
2- Thuyền trưởng có trách nhiệm xuất trình
các tài liệu của tầu, nếu cơ quan đại diện ngoại giao hoặc
lãnh sự yêu cầu.
Điều
55.
1- Ngay sau khi xảy ra các tai nạn hàng hải,
phát hiện các tai nạn hàng hải hoặc sự kiện đặc biệt liên
quan đến an toàn hàng hải tại khu mực mà tầu hoạt động, thuyền
trưởng có nghĩa vụ thông báo ngay cho nhà chức trách nơi gần
nhất biết.
2- Sau khi tầu ghé vào cảng Việt Nam đầu tiên
trong chuyến đi xảy ra tai nạn hàng hải hoặc khi xảy ra tổn
thất toàn bộ, thuyền trưởng có nghĩa vụ báo cáo cho các cơ
quan quản lý an toàn hàng hải Việt Nam một cách đầy đủ về
sự kiện đó. Thuyền trưởng và những người liên quan có thể
bị cơ quan này thẩm vấn, nếu xét thấy cần thiết.
3- Tai nạn hàng hải nói tại Bộ luật này là
tai nạn do đâm va và các sự cố liên quan đến tầu, gây hậu
quả chết người, gậy thương tích, làm cho tầu bị hư hỏng, chìm
đắm, phá huỷ, bị cháy, bị mắc cạn hoặc gây ô nhiễm môi trường.
Điều 56.
1- Trong trường hợp tầu, người ở trên tầu hoặc
hàng hoá vận chuyển trên tầu bị tổn thất do gặp tai nạn hoặc
nghi ngờ là có tổn thất, thì thuyền trưởng có nghĩa vụ làm
"Kháng nghị hàng hải" và chậm nhất là hai mươi bốn
giờ sau khi xảy ra tai nạn hoặc kể từ khi tầu ghé vào cảng
đầu tiên sau khi xảy ra tai nạn, phải trình cơ quan có thẩm
quyền để xác nhận việc trình kháng nghị này.
2- Bộ trưởng Bộ giao thông - Vận tải và Bưu
điện quy định cơ quan có thẩm quyền xác nhận việc trình "Kháng
nghị hàng hải" tại các cảng biển Việt Nam, trình tự và
thủ tục xác nhận vào "Kháng nghị hàng hải".
3- Khi tầu hoạt động ở nước ngoài, thuyền trưởng
trình "Kháng nghị hàng hải" tại cơ quan đại diện
ngoại giao hoặc lãnh sự có thẩm quyền của Việt Nam hoặc trình
cho cơ quan có thẩm quyền ở địa phương để xác nhận việc trình
kháng nghị này.
CHƯƠNG IV
CẢNG BIỂN và CẢNG VỤ
Điều 57.
1- Cảng biển nói tại Bộ luật này là cảng được
mở ra để tầu biển ra, vào hoạt động. Cảng biển bao gồm các
khu vực sau đây:
a) Kho bãi, cầu cảng, nhà xưởng, khu hành chính
và dịch vụ hàng hải, sau đây gọi chung là vùng đất cảng;
b) Vùng nước trước cầu cảng, vùng neo đậu -
chuyển tải, luồng ra, vào cảng, vùng tránh bão, sau đây gọi
chung là vùng nước cảng.
2- Khu vực hàng hải nói tại Bộ luật này bao
gồm vùng nước của nhiều cảng gần kề nhau và luồng quá cảng.
3- Hội đồng bộ trưởng quy định việc mở các
cảng biển.
Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện
công bố việc mở cảng biển, việc tạm thời cấm tầu ra, vào cảng
và ban hành Quy chế hoạt động hàng hải trong từng vùng nước
cảng biển hoặc khu vực hàng hải.
Điều
58.
1- Cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước chuyên ngành về hàng hải tại các khu vực hàng hải và
vùng nước cảng biển là cảng vụ.
2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu
điện công bố khu vực trách nhiệm của cảng vụ, sau khi tham
khảo ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ơng và đơn vị hành chính tương đương; quy định về tổ
chức và chỉ đạo hoạt động của cảng vụ.
Điều
59.
Người có quyền chỉ huy cao nhất của cảng vụ
là Giám đốc cảng vụ, Giám đốc cảng vụ có nhiệm vụ và quyền
hạn sau đây:
1- Tổ chức thực hiện quy chế hoạt động của
cảng vụ, kiểm tra việc chấp hành các quy định bảo đảm an toàn
hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, vệ sinh và trật tự
hàng hải;
2- Không cho phép tầu vào hoặc rời cảng khi
tầu không có đủ các điều kiện an toàn hàng hải cần thiết hoặc
cha thanh toán xong các khoản nợ, tiền phạt vi phạm quy chế
hoạt động tại cảng;
3- Thực hiện yêu cầu tạm giữ, bắt giữ hàng
hải đối với tầu biển hoặc lệnh bắt giữ tầu biển của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
4- Cấp giấy phép hoạt động cho tầu thuyền và
người hoạt động trong khu vực trách nhiệm; thu hồi giấy phép
đã cấp, nếu xét thấy không đủ điều kiện bảo đảm an toàn hàng
hải;
5- Tổ chức tìm kiếm và cứu nạn tầu, người trong
khu vực trách nhiệm;
6- Xử phát hành chính các hành vi vi phạm quy
định về an toàn hàng hải, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, vệ
sinh và trật tự hàng hải.
Điều
60.
1- Trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của
mình, các cơ quan quản lý Nhà nước về hàng hải, an ninh, kiểm
dịch, hải quan, thuế, văn hoá, phòng chống cháy - nổ, bảo
vệ môi trường và các cơ quan quản lý Nhà nước khác hoạt động
tại cảng biển theo quy định của pháp luật.
2- Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm
hoạt động thường xuyên tại cảng có quyền đặt trụ sở làm việc
trong cảng, Giám đốc xí nghiệp cảng có nghĩa vụ tạo điều kiện
thuận lợi cho các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ.
3- Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quy chế phối
hợp công tác giữa các cơ quan quản lý Nhà nước hoạt động tại
cảng biển.
CHƯƠNG V
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
Mục A: QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 61.
1- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là hợp đồng
được ký kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển
mà theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người
thuê vận chuyển trả và dùng tầu biển để vận chuyển hàng hoá
từ cảng bốc hàng đến cảng đích.
Hợp đồng vận chuyển được ký kết theo các hình
thức do các bên thoả thuận và là cơ sở để xác định quan hệ
pháp luật giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển.
2- Người vận chuyển là người dùng tầu biển
thuộc sở hữu của mình hoặc thuê tầu thuộc sở hữu của người
khác để thực hiện dịch vụ vận chuyển hàng hoá.
Người thuê vận chuyển là người nhân danh mình
hoặc nhân danh người khác ký hợp đồng để thuê người vận chuyển
vận chuyển hàng hoá.
3- Người thuê vận chuyển có quyền chỉ định
một người khác thay mặt mình thực hiện nghĩa vụ giao hàng
cho người vận chuyển, sau đây gọi là người giao hàng.
Các quy định tại chương này đối với người giao
hàng cũng được áp dụng đối với người thuê vận chuyển, nếu
trong thực tế người thuê vận chuyển tự mình giao hàng cho
người vận chuyển.
Điều
62.
1- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá có thể được
ký kết với điều kiện người vận chuyển phải dành cho người
thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ thể để vận
chuyển hàng hoá theo chuyến hoặc trong thời hạn nhất định,
sau đây gọi là hợp đồng thuê tầu.
2- Hợp đồng vận chuyển hàng hoá cũng có thể
được ký kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành
cho người thuê vận chuyển nguyên tầu hoặc một phần tầu cụ
thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số lượng, kích thước hoặc
trọng lượng của hàng hoá để vận chuyển, sau đây gọi là hợp
đồng lu khoang.
Điều
63.
Người thuê vận chuyển có thể chuyển giao quyền
theo hợp đồng của mình cho người thứ ba mà không cần người
vận chuyển đồng ý, nhưng vẫn phải có trách nhiệm về việc thực
hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá theo nguyên tắc cộng đồng
trách nhiệm với người thứ ba đã được chuyển giao quyền.
Điều
64.
Người vận chuyển có nghĩa vụ dùng tầu đã được
chỉ định trong hợp đồng để vận chuyển hàng hoá, trừ những
trường hợp sau đây:
a) Đối với hợp đồng thuê tầu, thì người vận
chuyển chỉ được thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng
bằng tầu khác, sau khi người thuê vận chuyển đồng ý;
b) Đối với hợp đồng lưu khoang, thì người vận
chuyển có quyền thay thế tầu đã được chỉ định trong hợp đồng
bằng một tầu khác cùng loại, có đủ điều kiện cần thiết để
vận chuyển hàng hoá, nếu hợp đồng không cấm việc thay thế
tầu và phải thông báo cho người thuê vận chuyển biết.
Điều
65.
1- Thời hiệu khiếu nại liên quan đến việc thực
hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá là một năm, tính từ ngày
thanh toán tiền cước vận chuyển.
2- Thời hiệu khiếu nại về hư hỏng hoặc mất
mát hàng hoá vận chuyển theo vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển
hàng hoá tương đương là một năm, tính từ ngày trả hàng hoặc
lẽ ra phải trả hàng cho người nhận hàng.
Điều
66.
Các quy định tại chương này không áp dụng đối
với việc vận chuyển Bưu phẩm, Bưu kiện. Hội đồng bộ trưởng
quy định việc vận chuyển Bưu phẩm, Bưu kiện bằng tầu biển.
Mục B: BỐC HÀNG
Điều 67.
1- Người vận chuyển có nghĩa vụ đưa tầu đến
cảng bốc hàng trong trạng thái sẵn sàng để nhận hàng, đúng
thời điểm và địa điểm; lưu tầu tại nơi bốc hàng theo các điều
kiện đã thoả thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá.
2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu
đáo để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tầu có đủ khả năng
đi biển; có thuyền bộ thích hợp; được cung ứng đầy đủ trang
thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu
vực khác dùng để vận chuyển hàng hoá có đủ các điều kiện nhận,
vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù hợp với tính chất của
hàng hoá.
Điều
68.
1- Nếu trong hợp đồng không có thoả thuận cụ
thể về nơi bốc hàng tại cảng bốc hàng, thì người vận chuyển
đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương coi là nơi bốc
hàng.
2- Nếu việc vận chuyển được thực hiện theo
hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển đưa tầu đến nơi bốc
hàng do người thuê vận chuyển chỉ định. Nơi bốc hàng này phải
an toàn, không gây trở ngại cho việc tầu vào, ra, chờ đợi
cùng với hàng hoá. Trong trường hợp có nhiều người thuê vận
chuyển mà họ không thoả thuận được về nơi bốc hàng hoặc khi
người thuê vận chuyển không chỉ định rõ nơi bốc hàng, thì
người vận chuyển đưa tầu đến địa điểm được tập quán địa phương
coi là nơi bốc hàng.
3- Người thuê vận chuyển trong trường hợp thuê
tầu, trừ tầu chuyên tuyến, có thể yêu cầu người vận chuyển
thay đổi vị trí tầu, mặc dù nơi bốc hàng đã được ghi rõ trong
hợp đồng. Người thuê vận chuyển phải thanh toán đầy đủ các
chi phí liên quan đến việc thực hiện yêu cầu này.
4- Người thuê vận chuyển trong hợp đồng lưu
khoang chỉ được yêu cầu người vận chuyển thay đổi vị trí tầu,
nếu đã có thoả thuận trong hợp đồng hoặc được tập quán địa
phương cho phép.
Điều
69.
1- Nếu việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện
theo hợp đồng thuê tầu, thì người vận chuyển có nghĩa vụ thông
báo bằng văn bản cho người thuê vận chuyển hoặc người giao
hàng về việc tầu đã đến cảng bốc hàng và sẵn sàng để nhận
hàng, sau đây gọi là "Thông báo sẵn sàng".
Ngày, giờ có hiệu lực của "Thông báo sẵn
sàng" do các bên thoả thuận trong hợp đồng; nếu không
có thoả thuận, thì được xác định theo tập quán địa phương.
Người vận chuyển phải bồi thường mọi thiệt
hại phát sinh do nội dung của "Thông báo sẵn sàng"
không dúng với sự thật ở thời điểm người thuê vận chuyển hoặc
người giao hàng nhận được văn bản này.
2- Nếu việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện
theo hợp đồng lưu khoang, thì người vận chuyển có nghĩa vụ
thông báo trong thời gian hợp lý cho người thuê vận chuyển
hoặc người giao hàng biết trước về nơi bốc hàng lên tầu, thời
điểm mà tầu sẵn sàng nhận hàng và thời hạn tập kết hàng hoá.
Trách nhiệm thông báo này không áp dụng đối
với tầu chuyên tuyến, trừ trường hợp lịch tầu có sự thay đổi.
Điều
70.
1- Thời hạn bốc hàng do các bên thoả thuận
trong hợp đồng thuê tầu; nếu không có thoả thuận, thì áp dụng
tập quán địa phương.
2- Thời gian gián đoạn do người thuê vận chuyển
hoặc người giao hàng gây ra, cũng như thời gian tầu thay đổi
vị trí theo yêu cầu của người thuê vận chuyển đều được tính
vào thời hạn bốc hàng.
3- Thời gian gián đoạn do người vận chuyển
gây ra hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng hoặc do điều
kiện thời tiết làm ảnh hưởng đến việc bốc hàng đúng kỹ thuật
hoặc có thể gây nguy hiểm cho việc bốc hàng đều không được
tính vào thời hạn bốc hàng.
4- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng
có thể thoả thuận với người vận chuyển về chế độ thưởng cho
việc bốc hàng xong trước thời hạn hoặc phạt đối với việc
bốc hàng quá thời hạn bốc hàng đã thoả thuận.
Điều 71.
1- Các bên tham gia hợp đồng thuê tầu có thể
thoả thuận trong hợp đồng về thời gian cho phép kéo dài thêm
ngoài thời hạn bốc hàng nói tại Điều 70 của Bộ luật này, sau
đây gọi là thời hạn dôi nhật. Nếu trong hợp đồng không quy
định cụ thể số ngày, giờ, thì thời hạn dôi nhật được các bên
liên quan xác định theo tập quán địa phương.
2- Tiền thanh toán về thời hạn dôi nhật do
các bên thoả thuận trong hợp đồng; nếu không có thoả thuận,
thì xác định theo tập quán địa phương.
Nếu tập quán địa phương cũng không có quy ước,
thì khoản tiền này được xác định trên cơ sở tổng chi phí thực
tế để duy trì tầu và thuyền bộ trong thời hạn dôi nhật.
3- Thời gian tầu phải lưu lại cảng bốc hàng
sau thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật do người thuê vận
chuyển hoặc người giao hàng gây ra gọi là thời gian lưu tầu.
Người vận chuyển có quyền đòi bồi thường các thiệt hại phát
sinh do lưu tầu.
Điều
72.
Người thuê vận chuyển có quyền thay thế hàng
hoá đã được ghi trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng loại
hàng hoá khác có tính chất tương đương, không ảnh hưởng đến
quyền lợi của người vận chuyển và những người thuê vận chuyển
khác.
Tiền cước vận chuyển đối với loại hàng hoá
thay thế không được thấp hơn giá cước đã thoả thuận đối với
loại hàng hoá bị thay thế.
Điều
73.
1- Hàng hoá phải được sắp xếp trên tầu theo
"Sơ đồ hàng hoá" do thuyền trưởng quyết định. Việc
xếp hàng hoá trên boong phải được người giao hàng đồng ý bằng
văn bản.
2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc chu
đáo tới việc bốc hàng; sắp xếp, chằng Buộc và ngăn cách hàng
hoá ở trên tầu. Các chi phí liên quan do hai bên thoả thuận
trong hợp đồng.
Điều
74.
Người vận chuyển có quyền cho tầu rời nơi bốc
hàng sau khi thời hạn bốc hàng và thời hạn dôi nhật trong
hợp đồng thuê tầu hoặc thời hạn tập kết hàng hoá trong hợp
đồng lưu khoang đã kết thúc, mặc dù toàn bộ hàng hoá hoặc
một phần hàng hoá được thuê vận chuyển chưa được bốc lên tầu
do những nguyên nhân thuộc về người thuê vận chuyển. Trong
trường hợp này, người vận chuyển vẫn được thu đủ tiền cước
vận chuyển, kể cả tiền cước của số hàng hoá chưa được bốc
lên tầu, cước thu đối với số hàng hoá đó gọi là cước khống.
Điều
75.
1- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, người
vận chuyển có quyền thu đủ cước, nhưng phải thực hiện các
yêu cầu sau đây của người thuê vận chuyển:
a) Cho tầu khởi hành trước thời hạn;
b) Bốc lên tầu số hàng hoá đã tập kết ở nơi
bốc hàng, mặc dù thời hạn dôi nhật đã kết thúc, nếu việc bốc
số hàng đó chỉ làm lưu tầu trong thời hạn không quá mười bốn
ngày và vẫn được hưởng quyền lợi nói tại khoản 3, Điều 71
của Bộ luật này.
2- Trong trường hợp cho thuê một phần tầu,
người vận chuyển có quyền thu đủ cước và từ chối bốc lên tầu
số hàng hoá được đưa đến sau thời hạn bốc hàng hoặc sau thời
hạn dôi nhật đã thoả thuận do nguyên nhân thuộc về người thuê
vận chuyển hoặc người giao hàng.
Điều
76.
1- Chỉ được xếp hàng vào những khu vực dành
riêng cho việc vận chuyển hàng hoá ở trên tầu, ngay cả khi
người thuê vận chuyển thuê nguyên tầu.
2- Người thuê vận chuyển có quyền đòi người
vận chuyển giảm tiền cước vận chuyển và bồi thường các thiệt
hại phát sinh do không nhận đủ phần tầu đã thuê theo hợp đồng
thuê tầu.
Điều
77.
1- Hàng hoá phải được đóng gói và đánh dấu
ký, mã hiệu hàng hoá theo quy định hiện hành.
2- Người vận chuyển có quyền từ chối bốc lên
tầu những hàng hoá không bảo đảm các tiêu chuẩn đóng gói cần
thiết.
3- Đối với hàng hoá dễ nổ, dễ cháy và các loại
hàng hoá nguy hiểm khác hoặc loại hàng hoá cần phải có biện
pháp đặc biệt khi bốc, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng, thì
ngoài trách nhiệm nói tại khoản 1, Điều này, người thuê vận
chuyển còn có nghĩa vụ cung cấp trong một thời gian thích
hợp cho người vận chuyển các tại liệu và chỉ dẫn cần thiết
về hàng hoá.
Người thuê vận chuyển phải bồi thường các tổn
thất phát sinh do việc cung cấp chậm trễ, thiếu chính xác
hoặc không hợp lệ các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết.
Điều
78.
1- Người thuê vận chuyển dù cố ý hoặc vô ý
đều phải chịu trách nhiệm đối với người vận chuyển, hành khách,
thuyền viên và các chủ hàng khác về những tổn thất phát sinh
do khai báo hàng hoá không chính xác hoặc không đúng sự thật.
2- Người giao hàng cũng phải chịu trách nhiệm
theo quy định tại khoản 1, Điều này, nếu có lỗi gây ra tổn
thất.
3- Người thuê vận chuyển hoặc người giao hàng
chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất nói tại khoản 1, Điều này,
nếu người vận chuyển chứng minh được là họ có lỗi gây ra tổn
thất đó.
Điều
79.
1- Người vận chuyển có quyền dỡ khỏi tầu, huỷ
bỏ hoặc làm mất khả năng gây hại của hàng hoá dễ nổ, dễ cháy
hoặc hàng hoá nguy hiểm khác mà không phải bồi thường và vẫn
được thu đủ cước, nếu số hàng hoá đó đã được khai báo sai
hoặc do người vận chuyển không được thông báo trước và cũng
không thể nhận biết về những đặc tính nguy hiểm của hàng hoá
khi bốc hàng qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường.
Người thuê vận chuyển phải chịu trách nhiệm
về các tổn thất phát sinh.
2- Trong trường hợp người vận chuyển đã nhận
bốc lên tầu những hàng hoá nguy hiểm, mặc dù đã được thông
báo trước hoặc đã nhận biết tính chất nguy hiểm của hàng
hoá đó qua sự hiểu biết nghiệp vụ thông thường và đã thực
hiện các biện pháp bảo quản theo đúng quy định, nhưng khi
hàng hoá đó đe doạ sự an toàn của tầu, người và hàng hoá trên
tầu, thì người vận chuyển cũng có quyền xử lý nh quy định
tại khoản 1, Điều này. Trong trường hợp này, người vận chuyển
chịu trách nhiệm về tổn thất phát sinh theo các nguyên tắc
về tổn thất chung và chỉ được thu cước cự ly.
Mục C: VẬN ĐƠN
Điều
80.
1- Theo yêu cầu của người giao hàng, người
vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ
vận đơn.
2- Người vận chuyển và người giao hàng có thể
thoả thuận việc thay thế vận đơn bằng giấy gửi hàng hoặc chứng
từ vận chuyển hàng hoá tương đương và thoả thuận về nội dung,
giá trị của các chứng từ này theo tập quán hàng hải quốc tế.
Điều
81.
1- Vận đơn là bằng chứng về việc người vận
chuyển đã nhận lên tầu số hàng hoá với số lượng, chủng loại,
tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi
trả hàng.
2- Vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng
để định đoạt và nhận hàng.
3- Vận đơn xác định mối quan hệ pháp luật giữa
người vận chuyển và người nhận hàng. Các quy định trong hợp
đồng vận chuyển hàng hoá chỉ có tác dụng ràng Buộc người nhận
hàng, nếu trong vận đơn có ghi rõ điều đó.
Điều
82.
1- Vận đơn phải bao gồm nội dung cơ bản sau:
a) Tên người vận chuyển và trụ sở giao dịch
chính;
b) Tên người giao hàng;
c) Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn
được ký phát dưới dạng vận đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh;
d) Tên tầu;
e) Sự mô tả về chủng loại, kích thước, thể
tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc giá trị, nếu xét thấy
cần thiết;
g) Sự mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì
hàng hoá;
h) Ký, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hoá
mà người giao hàng đã thông báo bằng văn bản trước khi bốc
hàng và được đánh dấu trên từng đơn vị hàng hoá hoặc bao bì;
i) Tiền cước vận chuyển và các khoản thu khác
của người vận chuyển; ghi chú phương thức thanh toán;
k) Nơi bốc hàng và cảng bốc hàng;
l) Cảng đích hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm
sẽ chỉ định cảng đích;
m) Số bản vận đơn gốc đã ký phát cho người
giao hàng;
n) Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn;
o) Chữ ký của người vận chuyển hoặc của thuyền
trưởng hoặc đại diện khác có thẩm quyền của người vận chuyển.
2- Nếu tên người vận chuyển không được xác
định cụ thể trong vận đơn, thì chủ tầu được coi là người vận
chuyển. Trong trường hợp vận đơn được lập theo quy định tại
khoản 1, Điều này ghi không chính xác hoặc không đúng sự thật
về người vận chuyển, thì chủ tầu chịu trách nhiệm bồi thường
các tổn thất phát sinh và sau đó được đòi người vận chuyển
bồi hoàn.
Điều
83.
1- Vận đơn có thể được ký phát dưới các dạng
sau đây:
a) Ghi rõ tên người nhận hàng, gọi là vận đơn
đích danh;
b) Ghi rõ người giao hàng hoặc những người
do người giao hàng chỉ định sẽ phát lệnh trả hàng, gọi là
vận đơn theo lệnh;
c) Không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người
phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn xuất trình.
2- Nếu trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ
tên người phát lệnh trả hàng, thì người giao hàng mặc nhiên
được coi là người có quyền đó.
Điều
84.
Vận đơn có thể được chuyển nhượng theo các
nguyên tắc sau đây:
a) Vận đơn đích danh được chuyển nhượng bằng
cách sang tên quyền sở hữu theo thủ tục do pháp luật quy định.
Người có tên trong vận đơn đích danh là người nhận hàng hợp
pháp;
b) Vận đơn theo lệnh được chuyển nhượng bằng
cách ghi vào ô ký hậu của vận đơn về người có quyền phát lệnh
trả hàng. Người cuối cùng có quyền phát lệnh trả hàng trong
vận đơn theo lệnh là người nhận hàng hợp pháp, mặc dù vẫn
còn ô ký hậu để trống;
c) Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bằng
cách trao cho người được chuyển nhượng. Người xuất trình vận
đơn vô danh là người nhận hàng hợp pháp.
Điều
85.
1- Các đặc điểm của hàng hoá được ghi vào vận
đơn theo "Giấy khai hàng" của người giao hàng.
2- Người giao hàng phải chịu trách nhiệm đối
với người vận chuyển về tổn thất phát sinh do đã khai không
chính xác hoặc không đúng sự thật về chủng loại, kích thước,
thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng, ký, mã hiệu của hàng
hoá.
Người vận chuyển vẫn phải chịu trách nhiệm
thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng vận chuyển đối với những
người khác, không phải là người thuê vận chuyển hoặc người
giao hàng.
Điều
86.
1- Người vận chuyển có quyền ghi chú vào vận
đơn các nhận xét của mình về tình trạng bên ngoài hoặc bao
bì hàng hoá, nếu có nghi vấn.
2- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào
vận đơn sự mô tả về hàng hoá, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính
chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm
bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.
3- Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vào
vận đơn ký, mã hiệu hàng hoá, nếu chúng cha được đánh dấu
rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy
khi chuyến đi kết thúc.
4- Nếu hàng hoá được đóng gói trước khi giao
cho người vận chuyển, thì người vận chuyển có quyền ghi vào
vận đơn là không biết rõ nội dung bên trong.
Điều
87.
1- Việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện
với sự tham gia của người vận chuyển đường bộ, đường sông
hoặc đường không, gọi là liên hiệp vận chuyển.
Vận đơn được ký phát cho cả quá trình vận chuyển
hàng hoá trong liên hiệp vận chuyển, gọi là vận đơn suốt.
2- Các quy định về vận đơn nói tại Bộ luật
này cũng được áp dụng đối với loại vận đơn suốt do người vận
chuyển đường biển ký phát, trừ trường hợp có những văn bản
pháp luật khác qui định cụ thể.
Điều
88.
1- Người vận chuyển đã ký phát vận đơn suốt
có nghĩa vụ tổ chức việc vận chuyển hàng hoá và chịu trách
nhiệm về hàng hoá trong cả quá trình vận chuyển theo vận đơn
suốt, cho đến khi hàng đã được trả cho người nhận hàng hợp
pháp.
2- Phạm vi trách nhiệm giữa người ký phát vận
đơn suốt và những người vận chuyển khác trong liên hiệp vận
chuyển do các bên thoả thuận theo nguyên tắc cộng đồng trách
nhiệm.
3- Người vận chuyển nào đã phải bồi thường
tổn thất liên quan đến vận đơn suốt theo nguyên tắc cộng đồng
trách nhiệm, thì có quyền yêu cầu những người vận chuyển khác
hoàn trả số tiền bồi thường theo tỉ lệ tiền cước vận chuyển
tương ứng với quãng vận chuyển do họ thực hiện.
Người vận chuyển nào chứng minh được mình đã
không có lỗi, thì không phải hoàn trả số tiền đó.
4- Người vận chuyển tham gia liên hiệp vận
chuyển có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các trách nhiệm của mình
và tận tâm chuẩn bị cho các quãng vận chuyển khác được thực
hiện có kết quả.
Người vận chuyển trong quãng cuối cùng của
liên hiệp vận chuyển có nghĩa vụ bảo vệ các quyền của những
người vận chuyển khác, đặc biệt là quyền cầm giữ hàng hoá.
Mục D: THỰC HIỆN VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
Điều
89.
1- Người vận chuyển phải thực hiện việc vận
chuyển hàng hoá trong thời gian hợp lý, theo đúng tuyến đường
quy định trong hợp đồng hoặc theo tuyến đường thường lệ, nếu
trong hợp đồng không có thoả thuận khác.
2- Người vận chuyển không bị coi là vi phạm
hợp đồng, nếu tầu phải đi trệch đường để cứu người, tài sản
trên biển hoặc do các nguyên nhân chính đáng khác mà không
ảnh hưởng đến hợp đồng vận chuyển. Người vận chuyển không
phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất hàng hoá phát
sinh do tầu phải đi trệch đờng trong các trường hợp này.
Điều
90.
1- Trong trường hợp tầu không vào được cảng
đích do những nguyên nhân không thể vượt qua được và cũng
không có khả năng chờ đợi để vào cảng đích sau một thời gian
hợp lý, thì người vận chuyển được phép đa tầu vào một cảng
an toàn gần nhất và phải thông báo cho người thuê vận chuyển
biết để xin chỉ thị.
2- Trong trường hợp cho thuê nguyên tầu, thì
tuỳ theo điền kiện cụ thể, thuyền trưởng phải xin chỉ thị
và hành động theo chỉ thị của người thuê vận chuyển. Nếu không
có khả năng thực hiện chỉ thị của người vận chuyển hoặc sau
một thời gian chờ đợi hợp lý mà vẫn không nhận được chỉ thị
của người thuê vận chuyển, thì thuyền trưởng có thể dỡ hàng
lên khỏi tầu hoặc vận chuyển hàng quay lại cảng bốc hàng,
tuỳ theo sự suy xét của mình, sao cho quyền lợi của người
thuê vận chuyển được bảo vệ chính đáng. Người thuê vận chuyển
phải trả cho người vận chuyển cước cự ly và chi phí liên
quan.
3- Trong trường hợp không cho thuê nguyên tầu,
thì thuyền trưởng cũng có quyền hành động như quy định tại
khoản 1, Điều này, nếu năm ngày sau khi gửi thông báo xin
chỉ thị mà vẫn không nhận được chỉ thị của người thuê vận
chuyển. Người thuê vận chuyển phải trả cho người vận chuyển
đủ cước và chi phí liên quan.
Mục E: DỠ HÀNG và TRẢ HÀNG
Điều 91.
Các quy định tại chương này liên quan đến việc
bốc hàng cũng được áp dụng tương tự đối với việc dỡ hàng và
trả hàng.
Điều
92.
1- Người thuê vận chuyển có quyền định đoạt
hàng hoá cho tới khi hàng được trả cho người nhận hợp pháp,
nếu chưa chính thức giao quyền này cho người khác; có quyền
yêu cầu dỡ hàng trước khi tầu bắt đầu chuyến đi, thay đổi
người nhận hàng hoặc cảng đích sau khi chuyến đi đã bắt đầu
với điều kiện phải bồi thường mọi tổn thất và chi phí liên
quan.
2- Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển
theo vận đơn, thì các quyền nói tại khoản 1, Điều này thuộc
về người nhận hàng hợp pháp nào có vận đơn gốc. Người vận
chuyển chỉ có nghĩa vụ thực hiện các chỉ thị của người đó
sau khi đã thu lại toàn bộ số vận đơn gốc đã ký phát.
3- Các quyền nói tại khoản 1, Điều này, không
được áp dụng, nếu việc thực hiện gây ra sự chậm chễ đáng kể
cho việc bắt đầu chuyến đi, trừ khi người vận chuyển đồng
ý.
Điều
93.
Khi tầu đến cảng đích, người vận chuyển có
nghĩa vụ trả hàng cho người nhận hàng hợp pháp nào có ít nhất
một bản vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển
hàng hoá tương đương có giá trị để nhận hàng quy định tại
khoản 2, Điều 80 của Bộ luật này.
Sau khi hàng đã được trả, các bản khác không
còn giá trị để nhận hàng.
Điều
94.
1- Khi nhận hàng, người nhận hàng phải thanh
toán cho người vận chuyển tiền cước vận chuyển, tiền bồi
thường do lưu tầu hoặc các khoản chi phí khác liên quan đến
việc vận chuyển hàng hoá, nếu các khoản tiền đó chưa được
thanh toán trước.
Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển theo
vận đơn, thì người nhận hàng chỉ phải thanh toán các chi phí
quy định trong vận đơn.
2- Người vận chuyển có quyền từ chối trả hàng
và có quyền lưu giữ hàng, nếu người thuê vận chuyển và người
nhận hàng chưa thanh toán đủ các khoản nợ hoặc khi chưa nhận
được sự bảo đảm thoả đáng.
Các khoản nợ không trả đúng hạn được tính thêm
lãi, theo lãi suất áp dụng tại ngân hàng giao dịch liên quan.
Các khoản nợ này bao gồm cả các chi phí đóng
góp vào tổn thất chung và tiền công cứu hộ được phân bổ cho
hàng hoá.
3- Người vận chuyển mất quyền khiếu nại người
thuê vận chuyển, nếu hàng đã được trả cho người nhận hàng.
Điều
95.
1- Trước khi trả hàng, người nhận hàng và người
vận chuyển đều có thể yêu cầu giám định hàng hoá. Người yêu
cầu phải thanh toán giám định phí.
Người vận chuyển phải thanh toán giám định
phí, ngay cả khi người nhận hàng yêu cầu giám định, nếu không
chứng minh được rằng hàng hoá bị mất mát, hư hỏng ngoài phạm
vi trách nhiệm của mình.
2- Hàng hoá được coi là đã trả đủ và đúng như
ghi trong vận đơn, nếu người nhận hàng không thông báo bằng
văn bản cho người vận chuyển về các mất mát, hư hỏng hàng
hoá ngay khi nhận hàng hoặc chậm nhất là ba ngày tính từ ngày
nhận hàng, nếu không thể phát hiện thiệt hại từ bên ngoài.
Đối với hàng hoá đã giám định nói tại khoản 1, Điều này, thì
không cần thông báo bằng văn bản.
Mọi thoả thuận trái với quy định này đều không
có giá trị.
Điều
96.
1- Nếu người nhận hàng không đến nhận hoặc
từ chối nhận hàng hoặc trì hoãn việc dỡ hàng, thì người vận
chuyển có quyền dỡ hàng và ký gửi vào một nơi an toàn, thích
hợp và thông báo cho người thuê vận chuyển biết. Mọi chi phí
và tổn thất phát sinh do người nhận hàng chịu trách nhiệm
bồi thường.
2- Người vận chuyển có quyền hành động theo
quy định tại khoản 1, Điều này, nếu có nhiều người cùng xuất
trình vận đơn gốc hoặc giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển
hàng hoá tương đương có giá trị để nhận hàng.
3- Việc bồi thường tổn thất do lưu tầu để dỡ
hàng và ký gửi hàng nói tại khoản 1, Điều này cũng được giải
quyết tương tự như trường hợp lưu tầu để bốc hàng.
4- Trong thời hạn sáu mươi ngày, tính từ ngày
tầu đến cảng đích, nếu không có người nhận số hàng ký gửi
hoặc người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ hoặc
không đưa ra một bảo đảm cần thiết, thì người vận chuyển có
quyền bán đấu giá số hàng đó để trừ nợ; nếu là hàng hoá mau
hỏng hoặc việc ký gửi là quá tốn kém so với giá trị thực tế
của hàng, thì người vận chuyển có quyền bán đấu giá trước
thời hạn đó.
Người vận chuyển có nghĩa vụ thông báo cho
người thuê vận chuyển biết về những trường hợp nói tại khoản
1, 2 và 4, Điều này và dự định bán hàng để trừ nợ theo quy
định tại khoản 4, Điều này.
5- Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể thủ tục
bán đấu giá các loại hàng hoá nói tại Điều này.
Điều
97.
1- Sau khi khấu trừ các khoản nợ của người
nhận hàng và các chi phí liên quan đến việc ký gửi và bán
đấu giá hàng hoá nói tại Điều 96 của Bộ luật này, số tiền
còn thừa phải được gửi vào ngân hàng để trả lại cho người
có quyền nhận số tiền đó.
2- Nếu tiền bán hàng không đủ để thanh toán
các khoản tiền nói tại khoản 1, Điều này, thì người vận chuyển
có quyền tiếp tục khiếu nại đòi những người liên quan phải
trả đủ.
3- Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể
từ ngày bán đấu giá hàng hoá mà không có ai yêu cầu nhận lại
số tiền còn thừa, thì người vận chuyển đem nộp vào kho bạc
Nhà nước theo thủ tục do pháp luật quy định.
Mục G: CƯỚC PHÍ và PHỤ PHÍ VẬN CHUYỂN
Điều 98.
1- Giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hoá
được xác định trên cơ sở biểu giá do Hội đồng bộ trưởng quy
định. Nếu giá cước và phụ phí vận chuyển hàng hoá không được
Hội đồng bộ trưởng quy định, thì do các bên tự thoả thuận
trong hợp đồng.
2- Thời hạn, phơng thức thanh toán tiền cước
và phụ phí vận chuyển do các bên thoả thuận trong hợp đồng.
Điều
99.
1- Đối với số hàng hoá bị thiệt hại do có tai
nạn trong khi tầu đang hành trình, thì dù với bất cứ nguyên
nhân nào cũng được miễn tiền cước vận chuyển; nếu đã thu
thì phải hoàn trả lại. Trong trường hợp hàng hoá lại được
cứu thoát hoặc được hoàn trả lại, thì người vận chuyển chỉ
được thu cước cự ly, nếu người có quyền lợi liên quan đến
hàng hoá đó không thu được lợi ích gì từ quãng đƯờng mà hàng
hoá đó đã được tầu vận chuyển.
2- Cước cự ly là tiền cước vận chuyển được
tính trên cơ sở tỉ lệ giữa quãng đường mà hàng hoá được vận
chuyển trong thực tế so với toàn bộ quãng đường vận chuyển
đã thoả thuận trong hợp đồng, cũng như trên cơ sở tỷ lệ giữa
sự đầu tư chi phí, thời gian, sự rủi ro hoặc khó khăn thông
thường liên quan đến quãng vận chuyển đã thực hiện so với
quãng vận chuyển còn lại.
3- Trong trường hợp hàng hoá hư hỏng hoặc hao
hụt do đặc tính riêng hoặc hàng hoá là súc vật mà bị chết
trong khi vận chuyển, thì người vận chuyển vẫn có quyền thu
đủ tiền cước vận chuyển.
Điều
100.
1- Trong trường hợp hàng hoá được bốc lên tầu
vợt qúa khối lượng đã thoả thuận trong hợp đồng, thì người
vận chuyển cũng chỉ có quyền thu tiền cước vận chuyển theo
giá cước đã thoả thuận đối với số hàng hoá đó.
2- Trong trường hợp hàng hoá được bốc lậu lên
tầu, thì người vận chuyển có quyền thu gấp đôi tiền cước
vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng đích và được bồi thường
các tổn thất phát sinh do việc xếp số hàng hoá bốc lậu đó
trên tầu. Người vận chuyển còn có quyền dỡ số hàng hoá bốc
lậu đó tại bất cứ cảng nào, nếu xét thấy cần thiết.
Mục H: CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG
Điều 101.
1- Người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi
hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
a) Người vận chuyển không đa tầu đến nơi bốc
hàng đúng thời điểm thoả thuận hoặc chậm trễ trong việc bốc
hàng hoặc bắt đầu chuyến đi; người thuê vận chuyển có quyền
được bồi thường các tổn thất phát sinh;
b) Khi hàng đã xếp xong mà vẫn chưa bắt đầu
chuyến đi hoặc khi tầu đang thực hiện chuyến đi, người thuê
vận chuyển có quyền yêu cầu dỡ hàng và phải trả đủ tiền cước
vận chuyển, chi phí liên quan cho người vận chuyển.
2- Người vận chuyển có quyền từ chối, không
thực hiện yêu cầu dỡ hàng của người thuê vận chuyển nói tại
điểm b, khoản 1, Điều này, nếu xét thấy việc đó làm chậm trễ
chuyến đi hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của những người liên
quan do phải thay đổi lịch trình đã định.
Điều 102.
1- Trong trường hợp thuê nguyên tầu, người
thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng trước khi tầu bắt
đầu chuyến đi, nhưng phải bồi thường các chi phí liên quan,
ngoài ra tuỳ theo thời điểm rút khỏi hợp đồng, người thuê
vận chuyển còn phải trả tiền cước theo các nguyên tắc sau:
a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu
rút khỏi hợp đồng trước khi tính thời hạn bốc hàng;
b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút
khỏi hợp đồng sau khi tính thời hạn bốc hàng hoặc rút khỏi
hợp đồng sau
khi tính thời hạn dôi nhật, nếu hợp đồng chỉ
ký kết cho một chuyến;
c) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển của cả
chuyến đi mà người thuê vận chuyển rút khỏi hợp đồng trước
khi bắt đầu chuyến đi cộng thêm một nửa tiền cước vận chuyển
của tất cả các chuyến đi tiếp theo, nếu hợp đồng được ký kết
cho nhiều chuyến.
2- Trong trường hợp người thuê vận chuyển rút
khỏi hợp đồng theo quy định tại khoản 1, Điều này, thì người
vận chuyển có nghĩa vụ lưu tầu tại nơi bốc hàng cho đến khi
hàng hoá đã được dỡ xong, mặc dù việc đó vượt quá thời hạn
bốc hàng và thời hạn dôi nhật.
Điều 103.
Trong trường hợp không thuê nguyên tầu, thì
người thuê vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng và phải bồi
thường các chi phí liên quan, ngoài ra tuỳ theo thời điểm
rút khỏi hợp đồng, người thuê vận chuyển còn phải trả tiền
cước vận chuyển theo các nguyên tắc sau đây:
a) Phải trả một nửa tiền cước vận chuyển, nếu
rút khỏi hợp đồng sau thời hạn tập kết hàng hoá đã thoả thuận;
b) Phải trả đủ tiền cước vận chuyển, nếu rút
khỏi hợp đồng trong khi tầu đang thực hiện chuyến đi.
Điều 104.
Người vận chuyển có quyền rút khỏi hợp đồng
trước khi bắt đầu chuyến đi, nếu số hàng hoá đã bốc lên tầu
chưa đủ theo hợp đồng và tổng giá trị của số hàng hoá đó không
đủ để bảo đảm cho tiền cước vận chuyển và các chi phí liên
quan mà người vận chuyển phải chi cho hàng hoá, trừ khi người
thuê vận chuyển đã trả đủ tiền cước vận chuyển hoặc có một
sự bảo đảm thoả đáng. Người thuê vận chuyển phải trả mọi chi
phí liên quan đến việc dỡ hàng và một nửa tiền cước vận chuyển
đã thoả thuận.
Điều 105.
1- Các bên tham gia hợp đồng đều có quyền rút
khỏi hợp đồng mà không phải bồi thường, nếu trước khi tầu
bắt đầu rời khỏi nơi bốc hàng đã xẩy ra các sự kiện sau đây:
a) Chiến tranh đe doạ sự an toàn của tầu hoặc
hàng hoá; cảng bốc hàng hoặc cảng đích được công bố là bị
phong toả;
b) Tầu bị giữ lại theo lệnh của nhà chức trách
địa phương mà không do lỗi của các bên tham gia hợp đồng;
c) Tầu bị Nhà nước trưng dụng;
d) Có lệnh cấm vận chuyển hàng hoá ra khỏi
cảng bốc hàng hoặc vào cảng đích.
2- Bên rút khỏi hợp đồng trong các trường hợp
nói tại khoản 1, Điều này, phải chịu mọi chi phí dỡ hàng.
3- Các bên cũng có quyền rút khỏi hợp đồng,
nếu các sự kiện nói tại khoản 1, Điều này xảy ra trong khi
tầu đang hành trình; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả
tiền cước cự ly và chi phí dỡ hàng.
Điều 106.
1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt, không bên nào
phải bồi thường thiệt hại, nếu sau khi hợp đồng đã ký kết
và trước khi tầu rời khỏi nơi bốc hàng mà không bên nào có
lỗi gây ra các trường hợp sau đây:
a) Tầu được chỉ định trong hợp đồng bị chìm
đắm, mất tích, bị cuỡng đoạt hoặc được coi là hư hỏng không
thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không kinh tế.
b) Hàng hoá ghi cụ thể trong hợp đồng bị mất.
2- Trong trường hợp tầu đang hành trình, mà
xẩy ra các trường hợp nói tại khoản 1, Điều này, thì người
vận chuyển chỉ có quyền thu cước cự ly. Nếu chỉ có tầu bị
tổn thất mà hàng hoá được cứu thoát hoặc được hoàn trả, thì
người vận chuyển có quyền thu cước cự ly đối với số hàng hoá
đó.
Điều 107.
Trong trường hợp hợp đồng chấm dứt theo các
quy định tại Mục này, người vận chuyển vẫn phải có nghĩa vụ
chăm sóc hàng hoá cho đến khi chuyển giao lại.
Mục I: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG TỔN THẤT HÀNG
HÓA
Điều 108.
1- Người vận chuyển có trách nhiệm chăm sóc
chu đáo hàng hoá và chịu trách nhiệm về các tổn thất do hư
hỏng, mất mát hàng hoá từ khi nhận bốc lên tầu cho đến khi
giao cho người nhận hàng. Người vận chuyển có nghĩa vụ bồi
thường tổn thất hàng hoá, nếu không chứng minh được rằng mình
không có lỗi gây ra các tổn thất đó.
2- Người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách
nhiệm, nếu tổn thất hàng hoá xẩy ra do:
a) Hành động, sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền
trưởng, thuyền viên khác, hoa tiêu hoặc những người làm công
cho người vận chuyển trong việc điều khiển hoặc quản trị tầu;
b) Hoả hoạn mà bản thân người vận chuyển không
gây ra;
c) Tai hoạ hoặc tai nạn hàng hải trên biển
và vùng nước liên quan đến biển mà tầu biển được phép hoạt
động;
d) Thiên tai bất khả kháng;
e) Chiến tranh;
g) Hành động xâm phạm trật tự và an toàn công
cộng;
h) Hành động bắt giữ hoặc các hành động cưỡng
chế khác của nhà chức trách, nhân dân hoặc toà án;
i) Hạn chế về phòng dịch;
k) Hành động hoặc sự sơ suất của người giao
hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ;
l) Đình công, đóng cửa xí nghiệp hoặc các hành
động tương tự khác làm hạn chế hoàn toàn hoặc một phần công
việc do bất cứ nguyên nhân nào;
m) Bạo động hoặc gây rối;
n) Hành động cứu hoặc nhằm mục đích cứu tính
mạng con người hoặc tài sản trên biển;
o) Hao hụt về khối lượng, trọng lượng hoặc
bất cứ mất mát, hư hỏng nào khác của hàng hoá xảy ra do chất
lượng, khuyết tật ẩn hoặc khuyết tật khác của hàng hoá;
p) Hàng hoá không được đóng gói đúng quy cách;
q) Hàng hoá không được đánh dấu ký, mã hiệu
đúng quy cách hoặckhông phù hợp;
r) Khuyết tật ẩn của tầu mà những người có
trách nhiệm không phát hiện được, mặc dù đã thực hiện nhiệm
vụ một cách mẵn cán;
s) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người
vận chuyển không có lỗi hoặc không đồng tình với việc gây
ra tổn thất hoặc không phải do đại lý và những người làm công
khác cho người vận chuyển có lỗi hoặc sơ suất gây nên tổn
thất.
Trong trường hợp có người được hưởng quyền
miễn hoàn toàn trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định
của pháp luật hoặc theo sự thoả thuận ghi trong hợp đồng,
thì người đó phải chứng minh rằng người vận chuyển đã không
có lỗi, không đồng tình hoặc đại lý và những người làm công
khác cho người vận chuyển cũng không có lỗi hoặc sơ suất gây
ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hoá.
Điều 109.
Người thuê vận chuyển không chịu trách nhiệm
bồi thường về các mất mát hoặc hư hỏng xảy ra đối với người
vận chuyển hoặc tầu, nếu chứng minh được rằng bản thân mình
hoặc đại lý và những người làm công cho mình đã không có hành
động, sự sơ suất hoặc sai lầm gây ra tổn thất đó.
Điều 110.
1- Trong trường hợp chủng loại và giá trị của
hàng hoá không được người giao hàng khai báo trước khi bốc
hàng hoặc không được ghi rõ vào vận đơn, giấy gửi hàng hoặc
chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương, thì người vận chuyển
hoặc tầu chỉ có nghĩa vụ bồi thường mất mát, hư hỏng hàng
hoá hoặc tổn thất khác liên quan đến hàng hoá trong giới hạn
tối đa tương đương với mười nghìn Frăng vàng cho mỗi kiện
hoặc đơn vị hàng hoá quy ước hoặc ba mươi Frăng vàng cho mỗi
kilôgam trọng lượng cả bì của số hàng hoá bị mất mát, hư hỏng
tuỳ theo giá trị nào là cao nhất.
Tiền bồi thường được chuyển đổi thành tiền
Việt Nam theo tỉ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam công bố ở thời điểm thanh toán bồi thường.
Tổng số tiền bồi thường được xác định trên
cơ sở tham khảo giá trị hàng hoá đó tại nơi và thời điểm dỡ
hàng quy định trong hợp đồng hoặc lẽ ra phải được dỡ hàng.
Giá trị của hàng hoá được xác định theo giá
giao dịch thương mại, nếu không xác định được giá đó, thì
xác định theo giá thị trường. Trong trường hợp cả hai giá
trên đều không xác định được, thì căn cứ vào giá hàng cùng
loại, cùng chất lượng tại nơi giải quyết bồi thường.
2- Trong trường hợp chủng loại và giá trị hàng
hoá được người giao hàng khai báo trước khi bốc hàng và được
người vận chuyển chấp nhận, ghi vào vận đơn, giấy gửi hàng
hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương, thì người vận
chuyển chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng của hàng
hoá trên cơ sở giá trị đó theo nguyên tắc sau đây:
a) Đối với hàng hoá bị mất mát, thì bồi thường
bằng giá trị đã khai báo;
b) Đối với hàng hoá bị hư hỏng, thì bồi thường
bằng mức chênh lệch giữa giá trị khai báo và giá trị còn lại
của hàng hoá.
Giá trị còn lại của hàng hoá được xác định
trên cơ sở giá thị trường ở nơi và thời điểm dỡ hàng hoặc
lẽ ra phải dỡ hàng; nếu không xác định được, thì căn cứ vào
giá thị trường ở nơi và thời điểm tầu bốc hàng cộng thêm chi
phí vận chuyển đến cảng đích.
Điều 111.
Trong mọi trường hợp, người vận chuyển hoặc
tầu đều không chịu trách nhiệm bồi thường các mất mát, hư
hỏng hàng hoá hoặc tổn thất liên quan đến hàng hoá, nếu người
giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị của
hàng hoá khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào
vận đơn, giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương
đương.
Điều 112.
1- Trong trường hợp hàng hoá được vận chuyển
theo vận đơn, thì mọi thoả thuận nhằm mục đích giảm các nghĩa
vụ và trách nhiệm của người vận chuyển nói tại các Điều 67,
108 và 110 của Bộ luật này, đều không có giá trị.
2- Nếu vận đơn được ký phát theo hợp đồng thuê
tầu, thì quy định tại khoản 1, Điều này được áp dụng từ khi
vận đơn được chuyển nhượng cho người thứ ba.
3- Các bên tham gia hợp đồng vận chuyển chỉ
có quyền thoả thuận về việc giảm trách nhiệm của người vận
chuyển, khác với quy định tại khoản 1, Điều này trong các
trường hợp liên quan đến:
a) Quãng thời gian từ khi nhận hàng đến trước
khi bốc hàng và quãng thời gian từ khi kết thúc dỡ hàng đến
khi trả xong hàng;
b) Vận chuyển súc vật sống;
c) Vận chuyển hàng hoá trên boong theo hợp
đồng.
Mục K: CẦM GIỮ HÀNG HÓA
Điều 113.
1- Chủ nợ có quyền sử dụng quyền cầm giữ hàng
hoá theo luật định để bảo đảm cho các khoản nợ u tiên, mặc
dù hàng hoá đó đã được cầm giữ, cầm cố hoặc thế chấp để bảo
đảm cho các khoản nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc quyết định
của toà án.
2- Các khoản nợ ưu tiên được giải quyết theo
thứ tự sau đây:
a) Các loại án phí và chi phí hành án; chi
phí bảo quản, bán và chia tiền bán hàng hoá; thuế và các khoản
chi phí công cộng khác;
b) Tiền phân bổ hàng hoá để trả công cứu hộ
hoặc đóng góp vào tổn thất chung;
c) Tiền bồi thường các tổn thất do hàng hoá
gây ra;
d) Quyền lợi của người vận chuyển.
Điều 114.
1- Các chủ nợ còn có quyền cầm giữ các khoản
tiền bồi thường cho tổn thất hàng hoá đã xảy ra, nhưng chưa
được phục hồi và tiền phân bổ cho hàng hoá trong trường hợp
xảy ra tổn thất chung.
2- Các chủ nợ không có quyền cầm giữ các khoản
tiền do người bảo hiểm bồi thường cho hàng hoá.
Điều 115.
1- Quyền cầm giữ hàng hoá chấm dứt hiệu lực,
kể từ khi hàng hoá được trả cho người nhận hàng hợp pháp.
2- Quyền cầm giữ các khoản tiền liên quan đến
hàng hoá chấm dứt hiệu lực, kể từ khi thanh toán các khoản
tiền đó cho người nhận hợp pháp.
CHƯƠNG VI
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH và HÀNH LÝ
Điều 116.
1- Hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý
là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và hành khách
mà theo đó người vận chuyển thu tiền công vận chuyển hành
khách, tiền cước hành lý do hành khách trả và dùng tầu biển
để vận chuyển hành khách từ cảng nhận khách đến cảng đích.
Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp
luật giữa người vận chuyển và hành khách. Vé đi tầu là bằng
chứng về việc ký kết hợp đồng.
2- Hành khách có nghĩa vụ trả tiền công vận
chuyển hành khách, tiền cước hành lý và phí dịch vụ khác cho
người vận chuyển.
3- Những thoả thuận nhằm hạn chế quyền của
hành khách hoặc miễn giảm trách nhiệm của người vận chuyển
quy định tại Bộ luật này đều không có giá trị.
4- Người vận chuyển có quyền thay thế vé bằng
loại chứng từ tương đương, nếu hành khách được vận chuyển
trên tầu biển không chuyên dùng chở khách.
Điều 117.
1- Hành khách có nghĩa vụ phục tùng sự chỉ
huy của thuyền trưởng và phải chấp hành mọi nội quy, chỉ dẫn
trên tầu.
2- Hành khách được hưởng mọi quyền lợi theo
đúng hạng vé và không phải trả tiền cước vận chuyển đối với
hành lý xách tay trong phạm vi trọng lượng và chủng loại do
người vận chuyển quy định.
Điều 118.
1- Người vận chuyển có nghĩa vụ chuẩn bị cho
tầu có đủ khả năng đi biển và an toàn vận chuyển cần thiết
tương tự như quy định tại Điều 67 của Bộ luật này.
2- Người vận chuyển có nghĩa vụ chăm sóc và
bảo vệ chu đáo hành khách và hành lý của họ từ khi nhận khách
lên tầu cho đến khi hành khách và hành lý của họ rời cầu tầu
ở cảng đích an toàn; chịu mọi phí tổn để đưa đón, chu cấp
ăn uống, phục vụ sinh hoạt và giải trí trong các trường hợp
đặc biệt xảy ra ngoài dự kiến, trong thời gian tầu thực hiện
chuyến đi.
Điều 119.
Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về
việc hành khách bị các nhà chức trách tại cảng mà tầu ghé
vào trong thời gian thực hiện chuyến đi bắt giữ do những nguyên
nhân mà bản thân hành khách tự gây ra.
Điều 120.
1- Hành khách lậu vé có nghĩa vụ trả đủ tiền
công vận chuyển cho quãng đường đi tầu và một khoản tiền phạt
tương đương.
2- Thuyền trưởng có quyền đa hành khách lậu
vé lên bờ hoặc chuyển sang một tầu khác để đưa về cảng, nơi
hành khách đó đã lên tầu và phải thông báo cho nhà chức trách
có thẩm quyền biết về tên, tuổi, quốc tịch của hành khách
lậu vé, nơi hành khách lên tầu và trốn trên tầu. Hành khách
lậu vé vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nói tại khoản 1, Điều này.
Điều 121.
1- Nếu hành khách không có mặt tại tầu đúng
thời điểm quy định, kể cả khi tầu ghé vào cảng trong thời
gian thực hiện chuyến đi, thì người vận chuyển có quyền không
trả lại tiền công vận chuyển đã thu.
2- Nếu hành khách bị ốm đau nguy hiểm đến tính
mạng mà không thể đi tầu được hoặc bị chết trong vòng ít nhất
là hai mươi bốn giờ trước khi tầu bắt đầu chuyến đi hoặc trong
khi tầu đang hành trình và khi hành khách từ chối tiếp tục
đi tầu vì những nguyên nhân do người vận chuyển gây ra, thì
hành khách được quyền nhận lại toàn bộ hoặc một phần tiền
công vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại.
3- Trong trường hợp tầu không thể đến cảng
đích hoặc không đến được cảng đích đúng thời gian quy định
vì những nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của
người vận chuyển, thì người vận chuyển có nghĩa vụ hoàn trả
cho hành khách số tiền công vận chuyển tương ứng với quãng
đường còn lại hoặc phải chịu phí tổn đưa hành khách quay lại
cảng nhận khách hoặc đến cảng đích tuỳ theo ý muốn của hành
khách, bằng tầu biển hoặc các phương tiện vận chuyển khác,
nếu không có điều kiện vận chuyển bằng tầu biển chở khách.
Điều 122.
1- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và yêu
cầu được nhận lại tiền công vận chuyển, nếu đã thông báo ý
định của mình cho người vận chuyển biết trước bảy ngày trong
vận chuyển quốc tế hoặc một ngày trong vận chuyển nội địa,
trước khi tầu bắt đầu chuyến đi.
Người vận chuyển có quyền giữ lại 25% tiền
công vận chuyển, nếu không bán lại được cho người khác vé
đi tầu đó.
2- Hành khách có thể rút khỏi hợp đồng và nhận
lại toàn bộ tiền vận chuyển, nếu ba ngày sau thời điểm lẽ
ra tầu phải bắt đầu chuyến đi mà tầu vẫn không rời cảng, đối
với loại tầu không chuyên dùng chở khách, thì thời hạn đó
là bảy ngày.
Điều 123.
1- Trong trường hợp vận chuyển hành khách bằng
tầu không chuyên dùng chở khách, thì người vận chuyển có quyền
rút khỏi hợp đồng và hoàn trả tiền công vận chuyển cho hành
khách vì không thể bắt đầu chuyến đi do những nguyên nhân
không thuộc về mình.
2- Người vận chuyển cũng có quyền theo quy
định tại khoản 1, Điều này khi tầu đang thực hiện chuyến đi
và có nghĩa vụ thực hiện các quy định tại khoản 3, Điều 121
của Bộ luật này.
Điều 124.
Trong trường hợp tầu chưa bắt đầu chuyến đi
hoặc đang hành trình mà xảy ra các trường hợp nói tại khoản
1, Điều 105 của Bộ luật này, thì các bên tham gia hợp đồng
đều có quyền rút khỏi hợp đồng mà khồng phải bồi thường; người
vận chuyển chỉ có nghĩa vụ hoàn trả cho khách số tiền công
vận chuyển tương ứng với quãng đường còn lại, ngay cả khi
hành khách rút khỏi hợp đồng.
Điều 125.
1- Hợp đồng mặc nhiên chấm dứt trong các trường
hợp tầu bị mất tích, bị chìm đắm, bị phá huỷ hoặc được coi
là hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa là không
có hiệu quả kinh tế.
2- Tiền công vận chuyển được hoàn trả cho hành
khách theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật này.
Điều 126.
1- Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm về
mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn
hại khác về sức khoẻ của hành khách xảy ra trong thời gian
thực hiện chuyến đi, nếu không chứng minh được rằng bản thân
mình hoặc các đại diện, người làm công cho mình không có lỗi
để xảy ra tai nạn liên quan đến các tổn thất đó do tầu bị
đâm va, chìm đắm, phá huỷ, mắc cạn, bị nổ hoặc cháy. Mọi thoả
thuận nhằm làm giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm này của
người vận chuyển đều không có giá trị.
2- Nếu người vận chuyển chứng minh được hành
khách cố ý hoặc vô ý gây ra tai nạn, thì người vận chuyển
được giảm một phần trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều
này.
3- Thời gian thực hiện chuyến đi bao gồm thời
gian hành khách ở trên tầu, thời gian hành khách lên tầu và
rời tầu, thời gian người vận chuyển chở khách từ bờ đến tầu
và ngược lại bằng đường thuỷ, nếu tiền công vận chuyển đã
được tính vào giá vé chung hoặc khi phương tiện chuyển tải
hành khách do người vận chuyển cung cấp.
Điều 127.
1- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi
thường các tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và
các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách trong mức giới
hạn do Hội đồng bộ trưởng quy định hoặc trên cơ sở điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận.
2- Người vận chuyển không có quyền hưởng mức
giới hạn này, nếu bản thân có lỗi gây ra tổn thất hoặc các
đại diện, người làm công cho người vận chuyển ở trên tầu có
lỗi khi thực hiện các trách nhiệm do người vận chuyển uỷ nhiệm.
Điều 128.
1- Người vận chuyển chịu trách nhiệm về sự
mất mát, hư hỏng hành lý theo các nguyên tắc liên quan đến
hàng hoá quy định tại CHƯƠNG V của Bộ luật này.
2- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về
sự mất mát, hư hỏng hành lý xách tay của hành khách xảy ra
do người vận chuyển hoặc những người làm công trên tầu cố
ý hoặc vô ý gây ra hoặc khi nhận ký gửi để bảo quản đã không
chăm sóc cho đáo.
3- Người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi
thường đồ vật quý hiếm, tiền bạc, giấy tờ có giá trị, tác
phẩm nghệ thuật và các tài sản có giá trị khác, nếu hành khách
đã khai báo về tính chất và giá trị của các tài sản đó cho
thuyền trưởng hoặc sĩ quan có trách nhiệm về hành lý biết
khi ký gửi để bảo quản.
Điều 129.
1- Người vận chuyển có quyền lưu giữ hành lý
của hành khách để bảo đảm quyền lợi của mình cho đến khi đã
được thoả mãn hoặc nhận được một sự bảo đảm thoả đáng khác.
2- Hành lý không có người nhận được xử lý theo
Điều 96 của Bộ luật này.
Điều 130.
1- Mọi tổn thất liên quan đến tính mạng, thơng
tích và các tổn hại khác về sức khoẻ của hành khách phải được
báo cho người vận chuyển biết ngay sau khi xảy ra và trong
thời hạn mời lăm ngày, kể từ ngày rời tầu, người khiếu nại
phải gửi cho người vận chuyển văn bản khiếu nại đòi bồi thường.
2- Yêu cầu đòi bồi thường mất mát, hư hỏng
hành lý phải được thông báo bằng văn bản cho người vận chuyển
trong thời hạn bảy ngày, kể từ khi hành lý được giao hoặc
lẽ ra phải được giao cho người nhận.
3- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường các tổn
thất về tính mạng, thương tích và các tổn hại khác về sức
khoẻ của hành khách là hai năm, tính từ ngày hành khách rời
tầu; nếu hành khách chết trên tầu thì thời hiệu đó tính từ
ngày hành khách lẽ ra phải rời tầu.
Trong trường hợp hành khách chết sau khi rời
tầu thì thời hiệu khiếu nại là ba năm, tính từ ngày hành khách
rời tầu.
4- Thời hiệu khiếu nại đòi bồi thường mất mát,
hư hỏng hành lý là sáu tháng, tính từ ngày trả hành lý hoặc
ngày lẽ ra phải trả hành lý cho người nhận.
CHƯƠNG VII
HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TẦU
Điều 131.
1- Hợp đồng cho thuê tầu là hợp đồng được ký
kết giữa chủ tầu và người thuê tầu, mà theo đó chủ tầu giao
quyền sử dụng tầu biển của mình cho người thuê tầu trong một
thời hạn hoặc một số chuyến đi liên tục vào các mục đích cụ
thể được thoả thuận trong hợp đồng để hưởng tiền thuê tầu
do người thuê tầu trả. Hợp đồng cho thuê tầu là cơ sở để xác
định quan hệ pháp luật giữa người thuê tầu và chủ tầu.
2- Hợp đồng cho thuê tầu được ký kết theo các
hình thức do hai bên thoả thuận.
Điều 132.
Hợp đồng cho thuê tầu quy định việc chủ tầu
giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu cùng với cả
thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu định hạn.
Hợp đồng cho thuê tầu chỉ quy định việc chủ
tầu giao quyền sử dụng tầu biển cho người thuê tầu mà không
có thuyền bộ, gọi là hợp đồng thuê tầu trần.
Điều 133.
1- Nếu có thoả thuận trong hợp đồng, thì người
thuê tầu có thể cho người thứ ba thuê lại tầu, nhng vẫn có
nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã ký kết với chủ tầu.
2- Các quyền và nghĩa vụ của chủ tầu quy định
tại chương này cũng được áp dụng đối với người cho thuê lại
tầu.
Điều 134.
1- Chủ tầu có nghĩa vụ giao tầu biển cho người
thuê tầu đúng địa điểm, thời điểm với trạng thái an toàn kĩ
thuật cần thiết, có dủ dự trữ, phù hợp với mục đích sử dụng
đã thoả thuận trong hợp đồng và duy trì nh vậy suốt thời
gian cho thuê tầu.
2- Chủ tầu cho thuê tầu định hạn còn có nghĩa
vụ cung cấp cùng với tầu một thuyền bộ có năng lực phù hợp
với mục đích sử dụng tầu đã thoả thuận trong hợp đồng, trả
lương và bảo đảm các quyền lợi hợp pháp khác cho thuyền viên
trong thời gian thuê tầu.
Điều 135.
1- Người thuê tầu có toàn quyền sử dụng các
khu vực chuyên dùng ở trên tầu để vận chuyển hàng hoá hoặc
hàng khách.
2- Nếu chủ tầu không đồng ý, người thuê tầu
không có quyền sử dụng các khu vực khác ở trên tầu để vận
chuyển hàng hoá hoặc hành khách.
Điều 136.
1- Người thuê tầu không phải trả tiền thuê
tầu cho thời gian tầu không đủ khả năng khai thác do hư hỏng,
thiếu dự trữ hoặc do thuyền bộ không đủ năng lực cần thiết,
nếu là tầu cho thuê định hạn. Trong trường hợp này, người
thuê tầu được miễn trách nhiệm đối với các chi phí để duy
trì tầu.
2- Nếu tầu không đủ khả năng khai thác do lỗi
của người thuê tầu, thì chủ tầu vẫn được hưởng tiền thuê tầu
và được bồi thường các thiệt hại liên quan.
Điều 137.
1- Trong thời gian tầu cho thuê định hạn, thuyền
trưởng và các thuyền viên khác trong thuyền bộ của tầu vẫn
thuộc quyền quản lý về lao động của chủ tầu. Chủ tầu hoàn
toàn chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến thuyền bộ.
2- Trong hoạt động khai thác tầu, thuyền trưởng
là người đại diện của người thuê tầu và phải thực hiện các
chỉ thị của người thuê tầu.
3- Chủ tầu chịu trách nhiệm với người thuê
tầu về việc thuyền trưởng thực hiện quyền hạn nói tại khoản
2, Điều này theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm, trừ khi
thuyền trưởng đã ghi rõ trong cam kết của mình là thực hiện
quyền hạn đó nhân danh người thuê tầu.
Điều 138.
Nếu tầu cho thuê định hạn tham gia cứu hộ trong
thời gian cho thuê, thì tiền công cứu hộ được chia đều giữa
chủ tầu và người thuê tầu, sau khi đã trừ lần lợt các tổn
thất liên quan đến hành động cứu hộ và tiền thưởng công cứu
hộ cho thuyền bộ.
Điều 139.
1- Người thuê tầu có nghĩa vụ sử dụng tầu đúng
các mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng và phải chăm sóc
chu đáo các quyền lợi của chủ tầu.
2- Sau khi đã hết hạn cho thuê tầu, người thuê
tầu có nghĩa vụ giao trả tầu cho chủ tầu đúng địa điểm, thời
điểm và trạng thái kĩ thuật như đã thoả thuận.
Người thuê tầu có trách nhiệm trả tiền thuê
tầu cho đến ngày giao trả tầu cho chủ tầu.
3- Người thuê tầu có nghĩa vụ bảo dưỡng tầu
và các trang thiết bị của tầu, nếu không có thoả thuận khác
trong hợp đồng.
4- Người thuê tầu trần còn có nghĩa vụ sửa
chữa các hư hỏng của tầu trong thời gian thuê tầu và phải
thông báo cho chủ tầu biết. Chủ tầu chịu trách nhiệm trả tiền
sửa chữa, nếu các tổn thất phát sinh ngoài phạm vi trách nhiệm
của người thuê tầu.
Điều 140.
1- Người thuê tầu có quyền rút khỏi hợp đồng
và được đòi bồi thường các thiết hại liên quan, nếu chủ tầu
có lỗi trong khi thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1,
Điều 134 của Bộ luật này.
2- Cả hai bên đều có quyền rút khỏi hợp đồng
mà không phải bồi thường, nếu xảy ra chiến tranh, bạo loạn
hoặc do các hành động cưỡng chế của chính quyền cản trở việc
thực hiện hợp đồng mà các sự kiện đó không thể chấm dứt sau
một thời gian chờ đợi hợp lý.
Điều 141.
1- Hợp đồng cho thuê tầu mặc nhiên chấm dứt,
nếu tầu bị mất tích, bị chìm đắm,
bị phá huỷ hoặc bị coi là hư hỏng không sửa
chữa được hoặc việc sửa chữa là không có hiệu quả kinh tế.
2- Trong trường hợp tầu cho thuê bị mất tích,
thì tiền thuê tầu được tính đến ngày thực tế nhận được tin
tức cuối cùng về tầu đó.
Điều 142.
Thời hiệu khiếu nại đối với các vụ việc liên
quan đến hợp đồng cho thuê tầu là hai năm, tính từ ngày hợp
đồng đó chấm dứt.
CHƯƠNG VIII
ĐẠI LÝ TẦU BIỂN và MÔI GIỚI HÀNG HẢI
Mục A: ĐẠI LÝ TÀU BIỂN
Điều 143.
1- Người đại lý tầu biển là người đại diện
thường trực của chủ tầu tại một cảng hoặc khu vực đại lý nhất
định.
2- Chủ tầu và người đại lý ký kết hợp đồng
đại lý cho từng chuyến tầu hoặc cho một thời hạn cụ thể, theo
các hình thức do hai bên thoả thuận. Trong hợp đồng phải ghi
rõ phạm vi uỷ thác của chủ tầu cho người đại lý.
3- Hợp đồng là cơ sở để xác định quan hệ pháp
luật giữa hai bên và là bằng chứng về sự uỷ nhiệm của chủ
tầu cho người đại lý trong quan hệ đối với người thứ ba.
Điều 144.
1- Trên cơ sở hợp đồng, người đại lý nhân danh
chủ tầu tiến hành các hoạt động liên quan đến việc kinh doanh
hàng hải, bao gồm việc thực hiện các thủ tục cần thiết liên
quan đến hoạt động của tầu tại cảng; ký kết các hợp đồng vận
chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc xếp hàng
hoá, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký
phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương;
thu chi các khoản tiền liên quan đến hoạt động khai thác tầu;
giải quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hoặc về tai nạn
hàng hải.
2- Người đại lý có thể phục vụ cho quyền lợi
của người thuê vận chuyển, người thuê tầu hoặc những người
khác có quan hệ hợp đồng với chủ tầu, nếu được chủ tầu đồng
ý.
3- Trong trường hợp người đại lý có hành động
vượt quá phạm vi uỷ thác của chủ tầu, thì chủ tầu vẫn phải
chịu trách nhiệm về hành động đó, nếu ngay sau khi nhận được
tin đã không tuyên bố cho những người liên quan biết là mình
không công nhận hành động này của người đại lý.
Điều 145.
1- Người đại lý có trách nhiệm tiến hành các
hoạt động cần thiết để chăm sóc và bảo vệ chu đáo các quyền
lợi của chủ tầu; phải chấp hành các yêu cầu và chỉ dẫn của
chủ tầu; nhanh chóng thông báo cho chủ tầu về các sự kiện
liên quan đến công việc được uỷ thác; tính toán chính xác
các khoản thu và chi liên quan đến công việc được uỷ thác.
2- Người đại lý phải bồi thường cho chủ tầu
các thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
Điều 146.
Chủ tầu có trách nhiệm hớng dẫn người đại
lý thực hiện công việc đã uỷ thác khi cần thiết và phải ứng
trước theo yêu cầu của người đại lý khoản tiền dự chi cho
công việc được uỷ thác.
Điều 147.
Các bên tham gia hợp đồng đại lý thoả thuận
về đại lý phí; nếu trong hợp đồng không có thoả thuận, thì
đại lý phí được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.
Điều 148.
Các bên tham gia hợp đồng đại lý đều có quyền
rút khỏi hợp đồng theo các điều kiện đã thoả thuận trước trong
hợp đồng.
Điều 149.
Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng
đại lý là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.
Mục B: MÔI GIỚI HÀNG HẢI
Điều 150.
1- Người môi giới hàng hải là người làm trung
gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm
hàng hải, hợp đồng cho thuê tầu, hợp đồng mua bán tầu, hợp
đồng lai dắt, hợp đồng thuê thuyền viên và các hợp đồng khác
liên quan đến hoạt động hàng hải, theo sự uỷ thác từng vụ
việc của người uỷ thác.
2- Người môi giới hàng hải chỉ được hưởng hoa
hồng môi giới khi hợp đồng được ký kết do hoạt động trung
gian của mình. Người môi giới và người uỷ thác thoả thuận
về hoa hồng môi giới; nếu không có thoả thuận trước, thì hoa
hồng môi giới được xác định trên cơ sở tập quán địa phương.
3- Trên cơ sở uỷ thác, người môi giới hàng
hải nhân danh người uỷ thác ký kết hợp đồng hoặc thu các khoản
tiền liên quan, nếu không có sự hạn chế rõ ràng mà phía bên
kia đã biết.
Điều 151.
Người môi giới hàng hải có quyền phục vụ các
bên tham gia hợp đồng với điều kiện phải thông báo cho tất
cả các bên biết về việc đó và có nghĩa vụ quan tâm thích đáng
đến quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Điều 152.
Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hoạt
động môi giới hàng hải giữa người môi giới và người uỷ thác
là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.
CHƯƠNG IX
HOA TIÊU HÀNG HẢI
Điều 153.
1- Hoa tiêu là người cố vấn và giúp đỡ cho
thuyền trưởng điều khiển tầu phù hợp với điều kiện hàng hải
ở khu vực dẫn tầu của hoa tiêu. Việc sử dụng hoa tiêu không
miễn giảm trách nhiệm chỉ huy tầu của thuyền trưởng, kể cả
trong trường hợp việc sử dụng hoa tiêu là bắt Buộc theo quy
định của pháp luật.
2- Thuyền trưởng có quyền lựa chọn hoa tiêu
hoặc đình chỉ hoạt động của hoa tiêu và yêu cầu thay thế hoa
tiêu.
Điều 154.
1- Trong thời gian dẫn tầu, hoa tiêu thuộc
quyền chỉ huy của thuyền trưởng tầu được dẫn.
2- Hoa tiêu có nghĩa vụ thường xuyên chỉ dẫn
cho thuyền trưởng biết về các điều kiện hàng hải ở khu vực
dẫn tầu; khuyến nghị thuyền trưởng về các hành động không
phù hợp với các quy định bảo đảm an toàn hàng hải và các quy
định pháp luật khác.
Khi thuyền trưởng cố ý không thực hiện các
chỉ dẫn hoặc khuyến nghị hợp lý của mình, thì với sự làm chứng
của người thứ ba, hoa tiêu có quyền từ chối dẫn tầu.
3- Hoa tiêu có nghĩa vụ thông báo cho Giám
đốc cảng vụ về tình hình dẫn tầu và những thay đổi có tính
chất nguy hiểm về hàng hải mà mình phát hiện được trong khi
dẫn tầu.
4- Hoa tiêu phải thực hiện mẫn cán nghĩa vụ
của mình.
Điều 155.
Thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo chính xác
cho hoa tiêu tính năng và đặc điểm riêng của tầu; bảo đảm
an toàn cho hoa tiêu khi lên và rời tầu; cung cấp cho hoa
tiêu các tiện nghi làm việc, phục vụ sinh hoạt trong suốt
thời gian hoa tiêu ở trên tầu.
Điều 156.
Nhiệm vụ của hoa tiêu chỉ được coi là kết thúc
sau khi tầu đã thả neo, cập cầu hoặc đã đến vị trí thoả thuận
một cách an toàn hoặc khi có hoa tiêu khác thay thế. Không
có sự đồng ý của thuyền trưởng, hoa tiêu không được phép rời
tầu.
Trong trường hợp vì lý do bảo đảm an toàn,
hoa tiêu không thể rời tầu sau khi kết thúc nhiệm vụ, thì
thuyền trưởng phải ghé vào cảng gần nhất để hoa tiêu rời tầu.
Chủ tầu phải chịu trách nhiệm đài thọ các chi phí liên quan
và tổ chức đưa hoa tiêu trở về nơi đã tiếp nhận hoa tiêu.
Điều 157.
1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất do lỗi
của hoa tiêu, thì chủ tầu phải chịu trách nhiệm bồi thường
các tổn thất đó như đối với tổn thất xảy ra do lỗi của thuyền
viên.
2- Hoa tiêu chỉ phải chịu trách nhiệm hành
chính hoặc hình sự trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều
này.
Điều 158.
1- Hội đồng bộ trưởng quy định biểu phí hoa
tiêu tại Việt Nam.
2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu
điện quy định cụ thể về tổ chức hoa tiêu; tiêu chuẩn và chứng
chỉ chuyên môn của hoa tiêu; vùng hoa tiêu bắt Buộc hoặc không
bắt Buộc tại Việt Nam.
CHƯƠNG X
LAI DẮT TRÊN BIỂN
Điều 159.
1- Lai dắt trên biển là việc thực hiện tác
nghiệp lai, kéo, đẩy hoặc hỗ trợ tầu biển và các phương tiện
nổi khác trên biển và các vùng nước liên quan đến biển mà
tầu biển được phép hoạt động, ngay cả khi tầu lai chỉ túc
trực bên cạnh để hỗ trợ khi cần thiết.
2- Người thuê lai dắt và chủ tầu lai thoả thuận
về tiền công lai dắt trong hợp đồng lai dắt; nếu không có
thoả thuận trong hợp đồng, thì tiền công lai dắt được xác
định trên cơ sở tập quán địa phương.
3- Hợp đồng lai dắt phải được làm thành văn
bản, trừ trường hợp lai dắt tầu làm man-nơ trong cảng.
Điều 160.
1- Tầu lai và tầu biển hoặc các phương tiện
được lai dắt khác hợp thành tập thể lai dắt. Tập thể lai dắt
được hình thành kể từ khi tầu lai và các thành viên khác của
tập thể lai dắt đã sẵn sàng thực hiện các tác nghiệp cần thiết
theo lệnh của người chỉ huy tập thể lai dắt và được giải tán
khi các tác nghiệp cuối cùng đã được thực hiện xong, các thành
viên của tập thể lai dắt đã rời xa nhau ở một khoảng cách
an toàn.
2- Các bên tham gia hợp đồng lai dắt trên biển
thoả thuận trong hợp đồng về người có quyền chỉ huy theo tập
thể lai dắt; nếu không có thoả thuận, thì xác định theo tập
quán địa phương.
Điều 161.
Chủ tầu lai có nghĩa vụ cung cấp tầu lai đúng
địa điểm, thời điểm với điều kiện kĩ thuật thoả thuận trong
hợp đồng.
Điều 162.
1- Chủ tầu của tầu có thuyền trưởng giữ quyền
chỉ huy tập thể lai dắt phải chịu trách nhiệm về các tổn thất
về tầu, người và tài sản trên tầu của các thành viên khác
trong tập thể lai dắt, nếu không chứng minh được rằng các
tổn thất đó xảy ra ngoài phạm vi trách nhiệm của mình.
2- Các tầu dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng
tầu khác không được miễn giảm trách nhiệm quan tâm đến sự
an toàn chung của tập thể lai dắt và an toàn hàng hải; chủ
tầu chịu trách nhiệm về các tổn thất về tầu, người và tài
sản trên tầu của các thành viên khác, nếu tầu của mình có
lỗi gây ra tổn thất.
Điều 163.
Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng
lai dắt trên biển là hai năm, tính từ ngày chấm dứt hợp đồng
lai dắt.
CHƯƠNG XI
CỨU HỘ HÀNG HẢI
Điều 164.
1- Cứu hộ hàng hải là hành động cứu tầu biển
hoặc các tài sản thuộc về tầu thoát khỏi nguy hiểm hoặc hành
động cứu trợ tầu biển đang bị nguy hiểm, được thực hiện trên
cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải.
2- Hợp đồng cứu hộ hàng hải được ký kết theo
các hình thức do các bên thoả thuận.
Điều 165.
1- Mọi hành động cứu hộ hàng hải mang lại kết
quả có ích đều được hưởng tiền công cứu hộ hợp lý.
2- Tiền công cứu hộ cũng phải được trả, kể
cả trong các trường hợp: người cứu hộ có hành động trực tiếp
hoặc gián tiếp giúp người được cứu hộ bảo vệ các quyền lợi
liên quan đến tiền cước, tiền công vận chuyển hành khách;
cứu hộ tầu biển thuộc cùng một chủ tầu; cứu hộ tầu sông hoặc
thuỷ phi cơ trên biển hoặc các vùng nước nội địa
3- Hành động cứu hộ trái với sự chỉ định rõ
ràng và hợp lý của thuyền trưởng tầu được cứu, thì không được
trả tiền công cứu hộ.
Điều 166.
1- Người được cứu tính mạng không có nghĩa
vụ trả bất cứ một khoản tiền nào cho người đã cứu mình.
2- Người cứu tính mạng được hưởng một khoản
tiền thưởng hợp lý trong tiền công cứu hộ tài sản, nếu hành
động đó liên quan đến cùng một tai nạn làm phát sinh hành
động cứu hộ tài sản.
Điều 167.
Người đang thực hiện nhiệm vụ hoa tiêu hoặc
lai dắt trên biển được thưởng công cứu hộ, nếu đã có những
sự giúp đỡ đặc biệt vượt quá phạm vi trách nhiệm theo hợp
đồng để cứu hộ tầu mà mình đang phục vụ.
Điều 168.
Các bên tham gia hợp đồng cứu hộ đều có quyền
yêu cầu huỷ bỏ hoặc thay đổi những thoả thuận không hợp lý
trong hợp đồng, nếu các thoả thuận này được ký kết trong tình
trạng nguy cấp và bị tác động bởi tình trạng đó hoặc chứng
minh được là đã bị lừa dối, lợi dụng khi ký kết và khi tiền
công cứu hộ quá thấp hoặc quá cao so với thực tế.
Điều 169.
1- Tiền công cứu hộ bao gồm tiền thưởng công
cứu hộ, chi phí cứu hộ và chi phí vận chuyển, bảo quản tầu
hoặc tài sản được cứu hộ.
2- Tiền công cứu hộ được thoả thuận trong hợp
đồng, nhưng phải hợp lý và không được vượt quá giá trị tầu
hoặc tài sản được cứu hộ.
3- Trong trường hợp tiền công cứu hộ không
được thoả thuận trong hợp đồng hoặc không hợp lý và khi có
nhiều người tham gia cứu hộ, thì tiền công cứu hộ được xác
định trên cơ sở:
a) Kết quả cứu hộ;
b) Công sức và mức độ cố gắng của người cứu
hộ;
c) Mức độ nguy hiểm đối với người trên tầu
bị nạn, tầu hoặc tài sản bị nạn;
d) Mức độ nguy hiểm đối với người cứu hộ cũng
như đối với các tầu và thiết bị cứu hộ mà người cứu hộ sử
dụng;
e) Thời gian, chi phí và các tổn thất liên
quan;
g) Rủi ro về trách nhiệm hoặc các rủi ro khác
mà người cứu hộ phải gánh chịu;
h) Giá trị các thiết bị cứu hộ;
i) Sự điều chỉnh đặc biệt của tầu cứu hộ để
phục vụ hành động cứu hộ;
k) Giá trị tài sản được cứu.
4- Tiền công cứu hộ có thể bị giảm hoặc không
được công nhận, nếu người cứu hộ đã tự gây ra tình trạng phải
cứu hộ hoặc có hành động trộm cắp, lừa đảo, gian lận khi thực
hiện hợp đồng cứu hộ.
Điều 170.
Giá trị tầu hoặc tài sản được cứu là giá trị
thực tế tại nơi để tầu hoặc tài sản sau khi được cứu hộ hoặc
tiền bán, định giá tài sản sau khi đã trừ chi phí ký gửi,
bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí tương tự khác.
Điều 171.
Tầu hoặc tài sản được cứu hộ có thể bị cầm
giữ hoặc tạm giữ để bảo đảm việc thanh toán tiền công cứu
hộ và các chi phí khác liên quan đến việc định giá, tổ chức
bán đấu giá.
Điều 172.
1- Tiền công cứu hộ được chia đều giữa chủ
tầu và thuyền bộ tầu cứu hộ, sau khi trừ chi phí, tổn thất
của tầu và chi phí, tổn thất của chủ tầu hoặc của thuyền bộ
liên quan đến hành động cứu hộ.
Nguyên tắc này không áp dụng đối với tầu cứu
hộ chuyên dùng.
2- Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu
điện quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ
của thuyền bộ.
Điều 173.
1- Các quy định tại chương này cũng được áp
dụng đối với các loại tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt
Nam.
2- Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ
nội vụ quy định cụ thể cách thức phân chia tiền công cứu hộ
của thuyền bộ các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam.
Điều 174.
Thời hiệu khiếu nại về việc thực hiện hợp đồng
cứu hộ là hai năm, tính từ ngày kết thúc hành động cứu hộ.
CHƯƠNG XII
TRỤC VỚT TÀI SẢN CHÌM ĐẮM
Điều 175.
1- Tài sản chìm đắm nói tại CHƯƠNG này là tầu,
hàng hoá hoặc các vật thể khác chìm đắm ở nội thuỷ, lãnh hải
Việt Nam hoặc trôi nổi trên biển hoặc dạt vào bờ biển Việt
Nam.
2- Trong thời hạn chậm nhất là một trăm tám
mươi ngày, kể từ ngày tài sản bị chìm đắm, chủ sở hữu tài
sản đó phải thông báo cho Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải
và Bưu điện về ý định trục vớt và thời hạn dự kiến kết thúc
hành động trục vớt.
Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận
được thông báo nói trên, Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải
và Bưu điện ra quyết định chấp nhận thời hạn dự kiến kết thúc
hoạt động trục vớt hoặc quy định cụ thể thời hạn chủ sở hữu
phải kết thúc hoạt động trục vớt. Thời hạn trục vớt không
được quá một năm, kể từ ngày chủ sở hữu tài sản được giao
quyết định này.
3- Trong trường hợp chủ sở hữu tài sản không
tiến hành hoạt động trục vớt trong thời hạn nói tại khoản
2, Điều này hoặc kéo dài hoạt động trục vớt quá một năm, kể
từ ngày kết thúc thời hạn trục vớt, thì tài sản đó đương nhiên
trở thành tài sản của Nhà nước Việt Nam.
Điều 176.
Việc trục vớt tài sản chìm đắm trong khu vực
quân sự và việc trục vớt trang thiết bị quân sự phải được
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc thủ trưởng cơ quan quân sự mà
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng uỷ nhiệm cấp giấy phép.
Điều 177.
1- Trong trường hợp tài sản bị chìm đắm gây
nguy hiểm hoặc cản trở hoạt động hàng hải, khai thác cảng
và tài nguyên biển; đe doạ tính mạng và sức khoẻ con người;
gây ô nhiễm môi trường biển, thì chủ tài sản có nghĩa vụ trục
vớt ngay sau khi bị chìm đắm. Trong trường hợp chủ tài sản
không thực hiện việc trục vớt, thì Bộ trưởng Bộ Giao thông
- Vận tải và Bưu điện tổ chức trục vớt và quy định rõ thời
hạn chủ sở hữu tài sản phải thanh toán các chi phí liên quan.
Chủ sở hữu tài sản còn phải bồi thường các
tổn thất liên quan và bị phạt theo quy định của pháp luật,
ngay cả khi bị mất quyền sở hữu tài sản quy định tại khoản
3, Điều 175 của Bộ luật này.
2- Trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều này,
Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện có quyền chỉ
định người trục vớt tài sản, nếu xét thấy người trục vớt do
chủ sở hữu tài sản chỉ định không có khả năng bảo đảm trục
vớt tài sản đúng thời hạn.
3- Sau một trăm tám mươi ngày, kể từ ngày nhận
thông báo về việc tài sản đã được trục vớt, nếu chủ sở hữu
tài sản không yêu cầu nhận lại tài sản hoặc không thanh toán
các chi phí liên quan trong thời hạn quy định, thì Bộ trưởng
Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện hoặc cơ quan được Bộ trưởng
Bộ Giao thông - Vận tải và Bưu điện uỷ nhiệm có quyền đem
bán đấu giá tài sản. Sau khi thu lại chi phí trục vớt, chi
phí bảo quản, tổ chức bán đấu giá và các chi phí khác, số
tiền còn thừa phải được ký gửi vào ngân hàng để trả lại cho
chủ sở hữu tài sản.
4- Chủ sở hữu tài sản chỉ chịu trách nhiệm
thanh toán các chi phí liên quan đến các trường hợp nói tại
Điều này trong giới hạn giá trị thực tế của tài sản đã được
trục vớt.
Điều 178.
Các tổ chức và cá nhân Việt Nam được giành
quyền ưu tiên trong việc ký kết hợp đồng trục vớt tài sản
chìm đắm tại nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam.
Điều 179.
1- Trong trường hợp ngẵu nhiên trục vớt được
tài sản của người khác trong nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam hoặc
khi đa tài sản ngẵu nhiên trục vớt được vào nội thuỷ, lãnh
hải Việt Nam, người trục vớt phải thông báo ngay cho Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành
chính tương đương, Hải quan nơi gần nhất và Bộ trưởng Bộ Giao
thông - Vận tải và Bưu điện biết về thời điểm, địa điểm và
các sự kiện liên quan khác; phải bảo vệ tài sản đó đến khi
giao lại; nếu có điều kiện cũng phải thông báo cho chủ sở
hữu tài sản biết.
2- Trong trường hợp nói tại khoản 1, Điều này,
người trục vớt được hưởng tiền công trục vớt và nhận lại chi
phí liên quan khác theo các nguyên tắc tương ứng về cứu hộ.
3- Trong trường hợp tài sản trục vớt nói tại
khoản 1, Điều này thuộc loại mau hỏng hoặc khi việc bảo quản
là quá tốn kém, thì người trục vớt có quyền xử lý tài sản
theo quy định tại khoản 3, Điều 177 của Bộ luật này.
4- Trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày
được thông báo mà chủ sở hữu tài sản không yêu cầu nhận lại
tài sản hoặc không thanh toán các khoản nợ và khi không xác
định được chủ sở hữu tài sản, thì người trục vớt có nghĩa
vụ giao nộp tài sản đó cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương quản
lý.
Trong thời hạn một trăm tám mươi ngày, kể từ
ngày thông báo mà chủ sở hữu tài sản không có hành động gì
để bảo vệ quyền lợi của mình, thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương
có quyền xử lý tài sản theo quy định tại khoản 3, Điều 177
của Bộ luật này.
Điều 180.
1- Người nào tìm thấy, cứu hoặc tham gia cứu
được tài sản của người khác đang trôi nổi trên biển, thì có
quyền hưởng tiền công theo nguyên tắc tương tự về cứu hộ,
nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết về yêu cầu của
mình, chậm nhất là khi trao trả tài sản.
2- Người tìm thấy, bảo quản tài sản dạt vào
bờ biển, thì có quyền được hưởng một khoản tiền thưởng và
bồi hoàn chi phí bảo quản không quá 30% giá trị thị trường
của tài sản đó, nếu đã thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết,
chậm nhất là khi trao trả tài sản.
3- Các quy định tại các khoản 1, 3 và 4 , Điều
179 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với các trường hợp
nói tại khoản 1 và khoản 2, Điều này.
Điều 181.
Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể việc xử
lý tài sản chìm đắm ở biển.
CHƯƠNG XIII
TAI NẠN ĐÂM VA
Điều 182.
1- Tai nạn đâm va nói tại Bộ luật này là tai
nạn xảy ra do đâm va giữa tầu biển với tầu biển, tầu biển
với tầu sông, tầu biển với thuỷ phi cơ hoặc các phương tiện
nổi khác trong các vùng nước mà tầu biển được phép hoạt động.
2- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va phải bồi
thường mọi tổn thất về tầu, người và tài sản liên quan đến
tai nạn đâm va đó. Khi cha xác định được lỗi một cách rõ
ràng, thì không ai có thể bị coi là đã có lỗi gây ra tai nạn
đâm va.
3- Tầu có lỗi gây ra tai nạn đâm va là tầu
gây ra sự đâm va do có hành động hoặc sự sơ suất trong việc
trang bị, điều khiển, quản trị tầu; trong việc chấp hành quy
tắc phòng ngừa đâm va trên biển và quy định bảo đảm an toàn
hàng hải; do không thực hiện những tập quán nghề nghiệp cần
thiết.
Điều 183.
1- Trong trường hợp có hai hoặc nhiều tầu cùng
có lỗi trong một tai nạn đâm va, thì trách nhiệm bồi thường
được phân bổ tuỳ theo mức độ lỗi của mỗi bên. Trong trường
hợp mức độ lỗi ngang nhau hoặc khi không xác định cụ thể mức
độ lỗi của mỗi bên, thì trách nhiệm bồi thường được phân bổ
đều cho tất cả các bên.
2- Đối với việc bồi thường tính mạng, thương
tích hoặc tổn hại khác về sức khoẻ con người, các tầu có lỗi
phải chịu trách nhiệm theo nguyên tắc cộng đồng trách nhiệm.
Tầu đã bồi thường quá trách nhiệm của mình có quyền đòi các
tầu liên quan hoàn trả số tiền quá mức đó.
Thời hiệu khiếu nại về việc đòi hoàn trả số
tiền quá mức là một năm, tính từ ngày trả tiền bồi thường.
Điều 184.
Trong trường hợp tai nạn đâm va xảy ra do các
nguyên nhân bất khả kháng, ngẵu nhiên hoặc khi không xác định
được tầu có lỗi, thì thiệt hại của tầu nào do tầu đó chịu,
kể cả trường hợp tầu đang được neo, Buộc hoặc cặp mạn một
tầu khác thì xảy ra đâm va.
Điều 185.
1- Khi xảy ra tai nạn đâm va, thuyền trưởng
các tầu liên quan có nghĩa vụ tiến hành cứu nạn tầu, người
và tài sản trên tầu khác, nếu hành động đó không gây ra sự
nguy hiểm đặc biệt cho tầu, người và tài sản trên tầu của
mình.
2- Ngay sau khi đâm va, thuyền trưởng các tầu
liên quan có nghĩa vụ trao đổi cho nhau biết tên tầu, hô hiệu,
nơi đăng ký, cảng rời cuối cùng và cảng định đến của tầu mình.
3- Chủ tầu không chịu trách nhiệm về việc thuyền
trưởng dưới quyền không thực hiện nghĩa vụ nói tại khoản 1
và khoản 2, Điều này.
Điều 186.
1- Các quy định tại chương này cũng được áp
dụng khi tầu có lỗi gây ra tổn thất cho tầu, người và tài
sản trên tầu khác mà không có sự đâm va trực tiếp.
2- Các quy định tại chương này cũng được áp
dụng đối với các tầu thuộc các lực lượng vũ trang Việt Nam.
Các tầu này chỉ được miễn trách nhiệm bồi thường nếu có lỗi
gây ra tai nạn đâm va khi đang làm nhiệm vụ ở vùng diễn tập
quân sự và vùng cấm hoạt động hàng hải đã được công bố, nhưng
thuyền trưởng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều
185 của Bộ luật này.
CHƯƠNG
XIV
TỔN THẤT CHUNG
Điều 187.
1- Tổn thất chung bao gồm những hy sinh hoặc
chi phí bất thường được thực hiện một cách có ý thức và hợp
lý vì sự an toàn chung nhằm cứu tầu, hàng hoá, tiền cước vận
chuyển hoặc tiền công vận chuyển hành khách thoát khỏi hiểm
hoạ chung.
2- Tổn thất là hậu quả trực tiếp của hành động
gây ra tổn thất chung mới được tính vào tổn thất chung. Tổn
thất gián tiếp liên quan đến hành động gây ra tổn thất chung
như tổn thất do lưu tầu hoặc do chênh lệch giá đều không được
tính vào tổn thất chung.
3- Chi phí đặc biệt vượt quá mức cần thiết
chỉ được tính vào tổn thất chung trong giới hạn hợp lý đối
với từng trường hợp cụ thể.
Điều 188.
1- Tổn thất chung được phân bổ theo một tỉ
lệ tương ứng với giá trị của tầu, hàng hoá, tiền cước vận
chuyển, tiền công vận chuyển hành khách ở nơi và thời điểm
mà tầu ghé vào lánh nạn sau khi xảy ra tổn thất chung.
2- Các quy định tại khoản 1, Điều này cũng
được áp dụng đối với trường hợp hiểm hoạ chung phát sinh do
lỗi của người cùng có lợi ích trong tổn thất chung hoặc của
người thứ ba.
3- Tổn thất chung cũng được phân bổ ngay cả
khi đã phải hy sinh tầu hoặc toàn bộ hàng hoá mà không đạt
được hiệu quả mong muốn.
4- Việc phân bổ tổn thất chung không loại trừ
quyền của người liên quan đòi người có lỗi phải bồi thường
cho mình.
Điều 189.
Tổn thất của số hàng hoá được bốc lậu lên tầu
hoặc khai sai về chủng loại và giá trị không được tính vào
tổn thất chung; nếu hàng hoá đó cũng được cứu thoát khỏi hiểm
hoạ chung, thì cũng phải chịu một giá trị phân bổ tương ứng.
Điều 190.
Mọi tổn thất về tầu, hàng hoá, tiền cước vận
chuyển không được tính vào tổn thất chung theo các nguyên
tắc trên đây, được gọi là tổn thất riêng. Người bị thiệt hại
không được bồi thường, nếu không chứng minh được tổn thất
xảy ra do lỗi của người khác.
Điều 191.
1- Việc xác định tổn thất chung, giá trị tổn
thất và phân bổ tổn thất chung do các chuyên viên phân bổ
tổn thất chung thực hiện theo yêu cầu và chỉ định của chủ
tầu.
2- Chủ tầu có nghĩa vụ chỉ định chuyên viên
phân bổ tổn thất chung của mình chậm nhất là sau ba mươi ngày,
kể từ ngày tầu ghé vào nơi lánh nạn, sau khi xảy ra tổn thất
chung. Sau thời hạn đó mà chủ tầu cha chỉ định được, thì
bất cứ ai trong số những người liên quan cũng có quyền chỉ
định chuyên viên phân bổ tổn thất chung.
3- Các nguyên tắc dùng để xác định cụ thể giá
trị tổn thất và giá trị phân bổ tổn thất chung do các bên
thoả thuận trong hợp đồng. Trong trường hợp không có thoả
thuận trước trong hợp đồng, thì chuyên viên phân bổ tổn thất
chung căn cứ vào tập quán quốc tế để giải quyết.
Điều 192.
Thời hiệu khiếu nại về tổn thất chung là hai
năm, tính từ ngày xảy ra tổn thất chung. Thời hiệu này tạm
dừng khi các chuyên viên phân bổ tổn thất chung bắt đầu tiến
hành hoạt động xác định tổn thất chung và tiếp tục được tính
từ ngày hoạt động đó chấm dứt.
Điều 193.
Hội đồng bộ trưởng ban hành Quy chế về chuyên
viên phân bổ tổn thất chung.
CHƯƠNG XV
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ TÀU
Điều 194.
1- Chủ tầu có trách nhiệm bồi thường dân sự
các tổn thất phát sinh trong việc sử dụng tầu biển, nếu không
chứng minh được rằng đã không có lỗi gây ra tổn thất đó, sau
đây gọi là trách nhiệm dân sự của chủ tầu.
2- Trách nhiệm bồi thường dân sự không loại
trừ trách nhiệm hành chính và hình sự.
Điều 195.
1- Chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường
theo mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này khi
bồi thường các tổn thất liên quan đến:
a) Bất cứ người nào có mặt ở trên tầu mà bị
chết, bị thương hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người;
mọi tài sản ở trên tầu bị mất mát, hư hỏng;
b) Bất cứ người nào ở bên ngoài con tầu mà
bị chết, bị thơng hoặc bị tổn hại khác về sức khoẻ con người;
mọi tài sản hoặc các quyền lợi khác ở bên ngoài con tầu bị
mất mát, hư hỏng hoặc bị xâm phạm do hành động, sự sơ suất,
sai lầm của bất cứ ai đang ở trên tầu hoặc ở ngoài con tầu
mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm về hành động, sự sơ suất,
sai lầm của họ. Trong trường hợp tổn thất do những người ở
bên ngoài con tầu gây ra mà chủ tầu phải chịu trách nhiệm
về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ, thì chủ tầu chỉ
được hạn chế trách nhiệm bồi thường đối với các tổn thất phát
sinh trong việc điều khiển, quản trị tầu, bốc hàng, vận chuyển
và dỡ hàng; nhận hành khách, vận chuyển và trả hàng khách;
c) Mọi nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định
của pháp luật về việc thanh thải xác tầu và các vật thể liên
quan đến tầu khi trục vớt, di chuyển, phá huỷ tầu bị đắm,
bị mắc cạn hoặc bị bỏ lại; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho thiết bị cảng, cầu bến, luồng lạch, vũng đậu
tầu, ụ tầu; nghĩa vụ hoặc trách nhiệm bồi thường tổn thất
ô nhiễm môi trường do tầu gây ra mà không phải là tổn thất
ô nhiệm môi trường do phóng xạ nguyên tử.
2- Chủ tầu cũng được hạn chế trách nhiệm bồi
thường trong các trường hợp nói tại điểm b, khoản 1, Điều
này, nếu trách nhiệm đó phát sinh từ việc sở hữu, chiếm hữu,
quản lý, kiểm soát tầu mà không cần phải chứng minh; lỗi của
chủ tầu hoặc của những người khác mà chủ tầu phải chịu trách
nhiệm.
3- Chủ tầu không được hạn chế trách nhiệm bồi
thường trong các trường hợp xảy tổn thất liên quan đến:
a) Hành động cứu hộ hoặc chi phí để đóng góp
vào tổn thất chung;
b) Ô nhiễm môi trường do phóng xạ nguyên tử;
c) Khiếu nại của thuyền trưởng, thuyền viên
khác, người làm công cho chủ tầu ở trên tầu hoặc của những
người làm công khác ở bên ngoài con tầu mà có nhiệm vụ liên
quan đến tầu, kể cả khiếu nại của người thừa kế, người đại
diện và người mà họ có trách nhiệm nuôi dỡng, nếu quy định
pháp luật về hợp đồng lao động giữa chủ tầu và những người
này không cho phép chủ tầu được hạn chế trách nhiệm bồi thường
đối với những khiếu nại của họ hoặc chỉ cho phép chủ tầu giới
hạn trách nhiệm bồi thường với mức cao hơn so với mức giới
hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này.
4- Trong trường hợp pháp luật về bảo vệ môi
trường của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết
hoặc công nhận có quy định khác với Bộ luật này, thì mức giới
hạn trách nhiệm bồi thường của chủ tầu được xác định và giải
quyết trên cơ sở các văn bản đó.
Điều 196.
1- Chủ tầu chỉ có trách nhiệm bồi thường theo
trách nhiệm dân sự trong các mức giới hạn:
a) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính
theo đơn giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho
mỗi tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường
tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại
khác về sức khoẻ con người;
b) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính
theo đơn giá tương đương một nghìn Frăng vàng cho mỗi tấn
đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường mất
mát, hư hỏng tài sản;
c) Tổng giá trị của con tầu liên quan, tính
theo giá tương đương ba nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi
tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT), nếu là để bồi thường
tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn thất
khác về sức khoẻ con người và mất mát, hư hỏng tài sản trong
cùng một vụ việc. Trong đó, tổng số tiền tính theo đơn giá
tương đương hai nghìn một trăm Frăng vàng cho mỗi tấn đăng
ký dung tích toàn phần (GRT) dùng để bồi thường tổn thất liên
quan tính mạng, thơng tích và các tổn hại khác về sức khoẻ
con người; số còn lại dùng để bồi thường mất mát, hư hỏng
tài sản. Trong trường hợp tổng số tiền dành để bồi thường
tổn thất liên quan đến tính mạng, thương tích và các tổn hại
khác về sức khoẻ con người không đủ, thì phần còn thiếu được
tính vào phần tiền dành để bồi thường mất mát, hư hỏng tài
sản theo tỉ lệ thuận.
2- Mọi thoả thuận nhằm giảm trách nhiệm bồi
thường của chủ tầu dưới mức giới hạn nói tại khoản 1, Điều
này đều không có giá trị.
3- Số tấn đăng ký dung tích toàn phần (GRT)
nói tại khoản 1, Điều này là:
a) Tổng dung tích thực dụng cộng với dung tích
Bưuồng máy, nếu là tầu có động cơ;
b) Tổng dung tích thực dụng, nếu là tầu không
có động cơ.
4- Khi xác định giới hạn trách nhiệm dân sự
của chủ tầu, loại tầu dưới ba trăm tấn đăng ký dung tích toàn
phần được quy tròn là ba trăm.
Điều 197.
1- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ
luật này chỉ được dùng để bồi thường các tổn thất phát sinh
trong cùng một vụ việc, không liên quan đến các vụ việc khác.
2- Trong trường hợp chủ tầu có quyền đòi người
khiếu nại mình bồi thường trong cùng một vụ việc, thì các
quy định tại chương này chỉ áp dụng để xác định khoản tiền
chênh lệch so với trách nhiệm của mỗi bên.
3- Mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ
luật này được chuyển đổi thành tiền Việt Nam theo tỉ giá chính
thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
thanh toán.
Điều 198.
1- Trong trường hợp số tiền bồi thường vượt
quá mức giới hạn quy định tại Điều 196 của Bộ luật này, thì
chủ tầu có thể lập "Quỹ bồi thường" để thoả mãn
các khiếu nại.
2- "Quỹ bồi thường" này chỉ dành
để giải quyết các khiếu nại đòi bồi thường mà chủ tầu được
hưởng quyền giới hạn trách nhiệm dân sự.
3- "Quỹ bồi thường" được lập bằng
cách ký quỹ hoặc bằng các hình thức bảo đảm khác ở toà án
nhận khiếu nại hoặc tại một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
khác và phải được toà án hoặc cơ quan đó công nhận là hợp
lệ và bảo hộ.
4- Sau khi chủ tầu đã lập "Quỹ bồi thường",
không ai có quyền xâm phạm quyền lợi hoặc tài sản của chủ
tầu. Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nói ở khoản
3, Điều này có quyền ra lệnh giải phóng tài sản bị cầm giữ,
bắt giữ hoặc chấm dứt các bảo đảm tương tự.
5- "Quỹ bồi thường" được phân chia
cho những người khiếu nại theo tỉ lệ thích hợp giữa các khoản
tiền khiếu nại.
6- Việc lập "Quỹ bồi thường" không
có nghĩa là chủ tầu đã thừa nhận mọi trách nhiệm về mình.
Điều 199.
Giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tầu cũng
được áp dụng theo nguyên tắc tương tự đối với người khai thác
tầu, người quản lý tầu, người cứu hộ chuyên nghiệp và những
người mà bản thân chủ tầu hoặc những người nói trên phải chịu
trách nhiệm về hành động, sự sơ suất, sai lầm của họ.
CHƯƠNG XVI
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Mục A: QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 200
1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng được
ký kết giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm mà theo
đó, người bảo hiểm thu bảo hiểm phí do người được bảo hiểm
trả và người được bảo hiểm được người bảo hiểm bồi thường
tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các hiểm hoạ hàng hải gây
ra theo mức độ và điều kiện đã thoả thuận với người bảo hiểm.
2- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể áp dụng
đối với cả các hiểm hoạ có thể gây ra tổn thất cho đối tượng
bảo hiểm hàng hải trên quãng vận chuyển đường không, đường
thuỷ nội địa hoặc đường bộ trong liên hiệp vận chuyển.
3- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được làm
bằng văn bản.
Điều 201.
1- Đối tượng bảo hiểm hàng hải có thể là bất
kỳ quyền lợi vật chất nào liên quan đến các hoạt động hàng
hải mà có thể quy ra tiền, bao gồm: tầu biển, hàng hoá, tiền
cước vận chuyển, tiền công vận chuyển hành khách, tiền thuê
tầu, tiền thuê - mua tầu, tiền lãi ước tính của hàng hoá,
các khoản hoa hồng, chi phí tổn thất chung, trách nhiệm dân
sự và các khoản tiền được bảo đảm bằng tầu, hàng hoá hoặc
tiền cước vận chuyển.
2- Đối tượng bảo hiểm hàng hải còn có thể là
tầu đang đóng.
Điều 202.
1- Người bảo hiểm có thể cho người khác tái
bảo hiểm đối tượng bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm.
2- Hợp đồng tái bảo hiểm độc lập với hợp đồng
bảo hiểm gốc.
Điều 203.
1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người
bảo hiểm có nghĩa vụ cấp đơn bảo hiểm cho người được bảo hiểm.
Đơn bảo hiểm là bằng chứng về việc ký kết hợp đồng.
2- Trước khi cấp đơn bảo hiểm, người bảo hiểm
có nghĩa vụ cấp cho người được bảo hiểm giấy chứng nhận về
việc ký kết hợp đồng, nếu người đó yêu cầu.
3- Đơn bảo hiểm có thể được cấp theo hình thức
đơn bảo hiểm đích danh, đơn bảo hiểm theo lệnh hoặc đơn bảo
hiểm vô danh.
4- Đơn bảo hiểm phải có những nội dung cơ bản
sau đây:
a) Tên người được bảo hiểm hoặc người có quyền
lợi được bảo hiểm;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Các hiểm hoạ được bảo hiểm;
d) Số lượng chuyến đi hoặc thời hạn thực hiện
hợp đồng bảo hiểm, tuỳ theo hợp đồng đó là hợp đồng bảo hiểm
chuyến hoặc hợp đồng bảo hiểm thời hạn;
e) Số tiền bảo hiểm;
g) Nơi, ngày, tháng và giờ cấp đơn bảo hiểm;
h) Chữ ký và xác nhận của người bảo hiểm.
Điều 204.
1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp
cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà mình biết
hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo
hiểm, có thể ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm
hoạ hoặc quyết định của người bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm
và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà mọi người
đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết.
2- Nghĩa vụ của người được bảo hiểm quy định
tại khoản 1, Điều này cũng được áp dụng đối với các đại diện
được uỷ quyền của người được bảo hiểm.
3- Các nghĩa vụ quy định tại Điều này cũng
được áp dụng đối với người thứ ba, nếu hợp đồng bảo hiểm được
ký kết vì quyền lợi của người thứ ba, trừ trường hợp người
thứ ba không biết về việc ký kết này.
Điều 205.
1- Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể được ký
kết vì quyền lợi của người thứ ba, sau đây gọi là người có
quyền lợi được bảo hiểm.
2- Người có quyền lợi được bảo hiểm có quyền
yêu cầu người bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm; nếu đơn bảo hiển
đã được giao cho người có quyền lợi được bảo hiểm, thì người
đó được hưởng đầy đủ các quyền theo hợp đồng.
Nghĩa vụ của người được bảo hiểm liên quan
đến việc thực hiện hợp đồng, trừ nghĩa vụ nộp bảo hiểm phí,
được chuyển sang cho người có quyền lợi được bảo hiểm từ khi
người này nhận được đơn bảo hiểm.
Điều 206.
1- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, nếu
vào thời điểm ký kết hợp đồng, hiểm hoạ được bảo hiểm đã xảy
ra hoặc không có khả năng xảy ra trong thực tế. Người bảo
hiểm vẫn có quyền thu tiền phạt huỷ hợp đồng, trừ trường hợp
trước khi ký kết người bảo hiểm đã biết về sự kiện đó.
2- Hai bên thoả thuận trong hợp đồng về mức
tiền phạt huỷ hợp đồng.
Điều 207.
Trong trường hợp người được bảo hiểm vi phạm
nghĩa vụ quy định tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người
bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn được thu đầy đủ
bảo hiểm phí. Nếu người được bảo hiểm không có lỗi trong việc
khai báo không chính xác hoặc không khai báo theo quy định
tại Điều 204 của Bộ luật này, thì người bảo hiểm không có
quyền rút khỏi hợp đồng, nhng có quyền thu thêm bảo hiểm
phí ở mức độ hợp lý.
Điều 208.
Người được bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng
bảo hiểm vào bất kỳ lúc nào, trước khi xuất hiện hiểm hoạ
được bảo hiểm và có nghĩa vụ trả tiền phạt huỷ hợp đồng.
Các bên tham gia hợp đồng thoả thuận trong
hợp đồng về tiền phạt huỷ hợp đồng và điều kiện hoàn trả bảo
hiểm phí.
Điều 209.
Thời hiệu khiếu nại liên quan đến hợp đồng
bảo hiểm hàng hải là hai năm, tính từ ngày phát sinh vụ việc.
Mục B: GIÁ TRỊ BẢO HIỂM và SỐ TIỀN BẢO HIỂM
Điều 210.
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của đối
tượng bảo hiểm và được xác định như sau:
a) Giá trị bảo hiểm của tầu là tổng giá trị
của tầu vào thời điểm bắt đầu bảo hiểm. Giá trị này còn bao
gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng, dự trữ
của tầu cộng với toàn bộ phí bảo hiểm phí. Tuỳ theo hợp đồng,
giá trị tầu còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho
thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi;
b) Giá trị bảo hiểm của hàng hoá là giá trị
hàng ghi trên hoá đơn ở nơi bốc hàng hoặc giá trị thị trường
ở nơi và thời điểm bốc hàng cộng với phí bảo hiểm và có thể
cả tiền lãi ước tính;
c) Giá trị bảo hiểm của tiền cước vận chuyển
là tổng số tiền cước vận chuyển cộng với bảo hiểm phí. Trong
trường hợp người thuê vận chuyển mua bảo hiểm cho tiền cước
vận chuyển, thì số tiền cước này được tính gộp vào giá trị
bảo hiểm của hàng hoá để bảo hiểm.
d) Giá trị bảo hiểm của các đối tượng bảo hiểm
khác, trừ các trách nhiệm dân sự, là giá trị của đối tượng
ở nơi và thời điểm bắt đầu bảo hiểm cộng với phí bảo hiểm.
Điều 211.
1- Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, người được
bảo hiểm phải kê khai số tiền cần bảo hiểm cho đối tượng bảo
hiểm, sau đây gọi là số tiền bảo hiểm.
2- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng
bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm, thì người bảo hiểm chịu
trách nhiệm bồi thường tổn thất, theo tỉ lệ giữa số tiền bảo
hiểm và giá trị bảo hiểm, kể cả chi phí khác thuộc phạm vi
bảo hiểm.
3- Nếu số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng
bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm, thì phần tiền vợt quá
giá trị bảo hiểm không được thừa nhận.
Điều 212.
Trong trường hợp đối tượng bảo hiểm được nhiều
người bảo hiểm đối với cùng một hiểm hoạ và tổng số tiền bảo
hiểm vượt quá giá trị bảo hiểm, thì tất cả những người bảo
hiểm đó chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trong phạm vi giá
trị bảo hiểm và mỗi người chỉ chịu trách nhiệm theo tỉ lệ
tương ứng với số tiền bảo hiểm mà mình đã nhận bảo hiểm. Bảo
hiểm này gọi là bảo hiểm trùng.
Mục C: CHUYỂN GIAO QUYỀN THEO HỢP ĐỒNG BẢO
HIỂM HÀNG HẢI
Điều 213.
Các quyền theo hợp đồng bảo hiểm hàng hải chỉ
được chuyển cho người đã được chuyển nhượng đối tượng bảo
hiểm; nếu các quyền đó không được chuyển cho người được chuyển
nhượng đối tượng bảo hiểm, thì hợp đồng mặc nhiên chấm dứt
và người bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ bồi thường các tổn thất
liên quan, xảy ra trước khi đối tượng bảo hiểm được chuyển
nhượng.
Nghĩa vụ của người chuyển nhượng đối tượng
bảo hiểm cũng đồng thời được chuyển cho người được chuyển
nhượng đối tượng bảo hiểm. Kể cả trách nhiệm liên quan đến
những khiếu nại do người bảo hiểm đã đưa ra trước đó đối với
người chuyển nhượng đối tượng bảo hiểm.
Điều 214.
1- Việc chuyển quyền theo hợp đồng bảo hiểm
hàng hải có cấp đơn bảo hiểm được thực hiện cùng với việc
chuyển nhượng đơn bảo hiểm.
2- Việc chuyển nhượng đơn bảo hiểm được giải
quyết theo nguyên tắc như chuyển nhượng vận đơn.
Điều 215.
1- Nếu đối tượng bảo hiểm là tầu biển, thì
việc chuyển các quyền theo hợp đồng bảo hiểm phải được người
bảo hiểm đồng ý trước.
2- Nếu tầu đang hành trình ở thời điểm được
chuyển nhượng cho người khác, thì các quyền theo hợp đồng
bảo hiểm tầu không được chuyển ngay cho người được chuyển
nhượng tầu mà hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực cho
đến khi tầu đó vào neo đậu tại cảng đầu tiên, sau khi được
chuyển nhượng.
Mục D: BẢO HIỂM BAO
Điều 216.
1- Bảo hiểm bao là loại bảo hiểm trọn gói,
được áp dụng đối với đối tượng bảo hiểm là một loại hàng hoá
hoặc một số loại hàng hoá mà người được bảo hiểm gửi đi hoặc
nhận được trong một thời hạn nhất định.
2- Người bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm bao
có nghĩa vụ cấp theo yêu cầu người được bảo hiểm đơn bảo hiểm
hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cho mỗi chuyến hàng hoặc cho
từng đơn vị hàng hoá.
Điều 217.
1- Người được bảo hiểm trong bảo hiểm bao có
nghĩa vụ thông báo ngay cho người bảo hiểm biết sau khi nhận
được các thông tin liên quan đến việc gửi hàng hoặc nhận được
hàng và mỗi lần đều phải thông báo tên tầu, tuyến hành trình,
hàng hoá và số tiền bảo hiểm, kể cả khi người bảo hiểm nhận
được thông báo, thì có thể hàng đã được gửi hoặc đã đến cảng
đích.
2- Nếu người được bảo hiểm cố ý hoặc do cẩu
thả mà không thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 1, Điều
này, thì người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng và vẫn
được hưởng bảo hiểm phí tương tự như trong trường hợp hợp
đồng được thực hiện đúng đắn.
Điều 218.
Các bên có quyền yêu cầu huỷ hợp đồng bảo hiểm
bao với điều kiện phải thông báo cho nhau biết trước ba tháng
về việc đó.
Mục E: THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI
Điều 219.
Người được bảo hiểm có nghĩa vụ nộp bảo hiểm
phí cho người bảo hiểm ngay sau khi ký kết hợp đồng hoặc ngay
khi được cấp đơn bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả
thuận khác.
Điều 220.
1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ báo ngay
cho người bảo hiểm biết sau khi nhận được các thông tin liên
quan đến sự thay đổi về các hiểm hoạ được bảo hiểm có khả
năng đe doạ đối tượng bảo hiểm hoặc về tai nạn đã xảy ra đối
với đối tượng bảo hiểm và phải làm theo các chỉ dẫn của người
bảo hiểm.
2- Người bảo hiểm có quyền rút khỏi hợp đồng
bảo hiểm, nếu người được bảo hiểm đã vi phạm quy định nói
tại khoản 1, Điều này.
Điều 221.
1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất liên quan
đến hiểm hoạ đã được bảo hiểm, người được bảo hiểm có nghĩa
vụ tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa hoặc hạn
chế tổn thất và bảo đảm cho việc thực hiện quyền khiếu nại
của người bảo hiểm đối với người gây ra tổn thất. Khi thực
hiện nghĩa vụ này, người được bảo hiểm phải thực hiện các
chỉ dẫn của người bảo hiểm.
2- Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối
với tổn thất xảy ra do người được bảo hiểm quá cẩu thả hoặc
cố ý không thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều này.
Điều 222.
Người bảo hiểm có trách nhiệm bồi hoàn cho
người được bảo hiểm mọi chi phí hợp lý và cần thiết do người
được bảo hiểm chi ra để ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thất thuộc
trách nhiệm bảo hiểm, cũng như chi phí thực hiện những chỉ
dẫn của người bảo hiểm quy định tại Điều 221 của Bộ luật này
hoặc chi phí để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất thuộc
phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm và chi phí đóng góp
vào tổn thất chung. Các chi phí này phải được bồi hoàn theo
tỉ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.
Điều 223.
Trong phạm vi số tiền bảo hiểm, người bảo hiểm
chịu trách nhiệm bồi thường cho những tổn thất là hậu quả
trực tiếp của hiểm hoạ được bảo hiểm và còn phải bồi hoàn
những chi phí quy định tại Điều 222 của Bộ luật này, mặc dù
tổng số tiền phải trả cho người được bảo hiểm có thể vượt
quá số tiền bảo hiểm.
Điều 224.
Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với
những tổn thất xảy ra do hành động cố ý hoặc quá cẩu thả của
người được bảo hiểm, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường
các tổn thất phát sinh do sự sơ suất hoặc sai lầm của thuyền
trưởng đồng thời cũng là người được bảo hiểm trong việc điều
khiển, quản trị tầu và các tổn thất do lỗi của thuyền bộ,
hoa tiêu.
Điều 225.
Khi bảo hiểm tầu và tiền cước vận chuyển, người
bảo hiểm không chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh
do:
a) Tầu không đủ khả năng an toàn đi biển vào
lúc bắt đầu chuyến đi, trừ khi tầu có khuyết tật ẩn hoặc khi
xảy ra các tình huống không thể tránh khỏi, mặc dù người được
bảo hiểm đã có sự quan tâm thích đáng;
b) Tuổi của tầu hoặc thời gian sử dụng;
c) Bốc lên tầu những chất hoặc vật liệu dễ
nổ, dễ cháy hoặc những hàng hoá nguy hiểm khác, không phù
hợp với những quy định về việc vận chuyển loại hàng này, nếu
người được bảo hiểm biết nhưng người bảo hiểm lại không biết
về việc đó.
Điều 226.
Khi bảo hiểm hàng hoá, người bảo hiểm không
chịu trách nhiệm về các tổn thất phát sinh do:
a) Tính chất tự nhiên của hàng hoá;
b) Hàng bị rò chảy, hao hụt hoặc hao mòn tự
nhiên;
c) Bao bì không đúng quy cách hoặc không thích
hợp;
d) Chậm trễ trong việc cung ứng hàng hoá.
Điều 227.
Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp
đồng bảo hiểm, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với
những tổn thất của đối tượng bảo hiểm xảy ra do chiến tranh
hoặc những hoạt động quân sự với bất kỳ tính chất nào và hậu
quả của nó; bị cưỡng đoạt; gây rối, đình công hoặc những tổn
thất xảy ra do hành động tịch thu, trưng dụng, bắt giữ, phá
huỷ tầu hoặc hàng hoá theo mệnh lệnh quân sự hoặc lệnh của
chính quyền dân sự.
Điều 228.
Trong trường hợp bồi thường tổn thất liên quan
đến các trách nhiệm trong tai nạn đâm va, thì ngoài trách
nhiệm bồi thường các tổn thất của đối tượng bảo hiểm, người
bảo hiểm còn có trách nhiệm bồi thường các tổn thất của người
thứ ba, nếu người được bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về các
tổn thất do tai nạn đâm va, mặc dù tổng số tiền bồi thường
có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
Điều 229.
Trong trường hợp xảy ra hiểm hoạ thuộc phạm
vi bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm, thì người bảo hiểm có thể
bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm để được miễn mọi trách
nhiệm khác theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng.
Tuy nhiên, người bảo hiểm phải thông báo ý định này cho người
được bảo hiểm biết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận
được thông báo của người được bảo hiểm về hiểm hoạ đã xảy
ra và hậu quả của nó. Trong trường hợp này người bảo hiểm
không được đòi quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểm, nếu
số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm.
Ngoài việc bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm,
người bảo hiểm còn phải bồi hoàn những chi phí nhằm mục đích
ngăn ngừa, hạn chế tổn thất hoặc để sửa chữa, khôi phục đối
tượng bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã chi trước khi nhận
được thông báo của người bảo hiểm.
Điều 230.
1- Trừ trường hợp có thoả thuận khác trong
hợp đồng, người bảo hiểm phải chịu trách nhiệm đối với các
tổn thất xảy ra kế tiếp nhau, mặc dù tổng số giá trị tổn thất
có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
2- Nếu đối tượng bảo hiểm bị tổn thất bộ phận
mà vẫn chưa được sửa chữa hoặc bồi thường và tiếp sau đó lại
xảy ra tổn thất toàn bộ, thì người được bảo hiểm chỉ được
bồi thường tổn thất toàn bộ.
3- những quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều
này không loại trừ trách nhiệm của người bảo hiểm đối với
việc bồi hoàn chi phí liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ
nói tại Điều 221 của Bộ luật này.
Mục G: THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG KHI
CÓ NGƯỜI THỨ BA PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ TỔN THẤT
Điều 231.
Khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo
hiểm, người bảo hiểm được quyền truy đòi người thứ ba về trách
nhiệm bồi thường tổn thất trong phạm vi số tiền đã trả. Người
bảo hiểm thực hiện quyền này theo đúng các thể thức quy định
đối với người được bảo hiểm.
Điều 232.
1- Người được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp
cho người bảo hiểm mọi tin tức, tài liệu, bằng chứng và đồng
thời phải áp dụng những biện pháp cần thiết để người bảo hiểm
có thể thực hiện có hiệu quả quyền truy đòi người thứ ba.
2- Nếu người được bảo hiểm không thực hiện
nghĩa vụ nói tại khoản 1, Điều này hoặc có lỗi làm cho quyền
truy đòi của người bảo hiểm không thể thực hiện được thì người
bảo hiểm được miễn trả toàn bộ tiền bồi thường hoặc được giảm
ở mức độ thích đáng.
3- Nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi
thường tổn thất do người thứ ba trả, thì người bảo hiểm chỉ
có nghĩa vụ trả phần tiền chênh lệch giữa số tiền phải bồi
thường theo hợp đồng bảo hiểm và số tiền mà người được bảo
hiểm đã nhận từ người thứ ba.
Điều 233.
1- Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, người
bảo hiểm phải cam kết thanh toán chi phí đóng góp vào tổn
thất chung trong phạm vi số tiền bảo hiểm.
2- Khi lập bản phân bổ tổn thất chung, người
được bảo hiểm có nghĩa vụ quan tâm thích đáng các quyền lợi
của người bảo hiểm.
Mục H: TỪ BỎ ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM
Điều 234.
1- Người được bảo hiểm có quyền tuyên bố từ
bỏ đối tượng bảo hiểm và chuyển cho người bảo hiểm quyền,
nghĩa vụ của mình liên quan đến đối tượng bảo hiểm để được
nhận tiền bồi thường tổn thất toàn bộ, nếu việc đối tượng
bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ là không thể tránh khỏi hoặc
việc ngăn ngừa tổn thất đó sẽ gây ra các chi phí quá cao so
với giá trị của đối tượng bảo hiểm.
2- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm có thể được
áp dụng trong trường hợp tầu biển bị mất tích, bị cưỡng đoạt,
bị hư hỏng do tai nạn mà không thể sửa chữa được hoặc chi
phí sửa chữa, phục hồi, chuộc tầu là không có hiệu quả kinh
tế.
3- Quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm nói tại khoản
2, Điều này cũng được áp dụng đối với hàng hoá, kể cả khi
chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hoá đến cảng đích là quá
cao so với giá trị thị trường của hàng hoá đó tại cảng đích.
Điều 235.
1- Tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm phải làm
bằng văn bản và phải ghi rõ căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ
đối tượng bảo hiểm.
2- Tuyên bố từ bỏ phải được gửi cho người bảo
hiểm trong thời hạn hợp lý, nhưng không quá một trăm tám mươi
ngày, kể từ ngày người được bảo hiểm biết về các sự kiện làm
căn cứ để áp dụng quyền từ bỏ hoặc trong thời hạn sáu mươi
ngày, kể từ ngày hết hạn bảo hiểm trong các trường hợp tầu
hoặc hàng hoá bị cỡng đoạt hoặc bị mất quyền chiếm hữu vì
những nguyên nhân khác. Sau các thời hạn nói trên, thì người
được bảo hiểm bị mất quyền từ bỏ đối tượng bảo hiểm, nhưng
vẫn có quyền đòi bồi thường tổn thất.
3- Việc từ bỏ đối tượng bảo hiểm không được
kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Nếu việc từ bỏ đã được chấp
nhận, thì người bảo hiểm và người được bảo hiểm đều không
được thay đổi quyết định của mình.
Điều 236.
Khi tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo hiểm, người
được bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm những
thông tin liên quan đến quyền về tài sản đối với đối tượng
bảo hiểm, các khoản bảo hiểm và hạn chế khác mà người được
bảo hiểm biết.
Điều 237.
1- Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày
nhận được tuyên bố từ bỏ, người bảo hiểm có nghĩa vụ thông
báo cho người được bảo hiểm biết là chấp nhận hoặc từ chối
việc từ bỏ. Sau thời hạn này, người bảo hiểm bị mất quyền
từ chối.
2- Quyền và nghĩa vụ liên quan đến đối tượng
bảo hiểm được chuyển sang cho người bảo hiểm ngay sau khi
người bảo hiểm thông báo chấp nhận từ bỏ; người bảo hiểm có
thể không đòi quyền và nghĩa vụ này.
3- Nếu việc thông báo từ bỏ được thực hiện
đúng quy định mà người bảo hiểm không chấp nhận việc từ bỏ,
thì người được bảo hiểm vẫn có quyền đòi bồi thường.
Điều 238.
1- Trong trường hợp xảy ra tổn thất toàn bộ
thực tế do tầu bị mất tích cùng với hàng hoá trên tầu, người
được bảo hiểm có thể đòi người bảo hiểm bồi thường toàn bộ
số tiền bảo hiểm mà không phải tuyên bố từ bỏ đối tượng bảo
hiểm theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật này.
2- Trong trường hợp tầu bị mất tích là tầu
được bảo hiểm có thời hạn, người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm
bồi thường, nếu đã nhận được tin cuối cùng về tầu trước khi
kết thúc thời hạn bảo hiểm. Người bảo hiểm không chịu trách
nhiệm bồi thường, nếu chứng minh được tầu bị mất tích sau
khi thời hạn bảo hiểm kết thúc.
Điều 239.
Nếu người bảo hiểm đã trả tiền bồi thường mà
sau đó tầu lại thoát khỏi hiểm hoạ, thì người bảo hiểm có
quyền yêu cầu người được bảo hiểm tiếp tục sở hữu tầu đó và
hoàn lại số tiền đã được bồi thường, sau khi khấu trừ tiền
bồi thường tổn thất bộ phận của tầu, với điều kiện tổn thất
bộ phận đó là hậu quả trực tiếp của hiểm hoạ được bảo hiểm.
Mục I: THANH TOÁN TIỀN BỒI THƯỜNG
Điều 240.
Khi thanh toán tiền bồi thường tổn thất của
đối tượng bảo hiểm, người bảo hiểm có quyền yêu cầu người
được bảo hiểm trình bày về sự kiện liên quan, xuất trình tài
liệu, bằng chứng cần thiết cho việc đánh giá sự kiện và mức
độ tổn thất.
CHƯƠNG XVII
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÀNG HẢI
Điều 241.
1- Các bên liên quan có thể giải quyết tranh
chấp hàng hải bằng thương lượng hoặc thoả thuận đưa tranh
chấp ra giải quyết trước trọng tài hoặc khởi kiện trước toà
án.
2- Các tranh chấp hàng hải được trọng tài hoặc
toà án giải quyết theo thẩm quyền, thủ tục do pháp luật quy
định.
Điều 242.
Nếu hợp đồng hàng hải có ít nhất một bên là
tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, thì các bên tham gia hợp
đồng có thể thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước
trọng tài hoặc toà án ở nước ngoài.
CHƯƠNG XVIII
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều 243.
Bộ luật hàng hải Việt Nam có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1991.
Điều 244.
những quy định trước đây về hoạt động hàng
hải trái với Bộ luật này đều bãi bỏ.
----------------------------------------------------------
Bộ luật đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
30 tháng 6 năm 1990.
|